Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

KHÓC CƯỜI VỚI NGƯỜI THƯƠNG VAY


Nguyên Đạt K5


Tản mạn với Ng. Hữu Ninh-Người viết lời Nẫu ca Trách phận

Từ lâu tôi đã muốn viết đôi điều về anh bạn Nguyễn Hữu Ninh, người sáng tác phần lời “Nẫu ca” Trách phận, một bài hát không những được người Phú Yên mà còn nhiều bà con vùng miền khác rất thích nghe và hát nhưng quả là khó, bởi Ninh là một con người khá đặc biệt, có cá tính lại được nhiều người biết tới; họ hoặc là bạn ở quê, bạn cùng trường, bạn văn nghệ hay là những người đã từng cùng Ninh qua một chặng đường nào đó; giả như có gì sai sót, không khéo người ta sẽ cho là hoa ngôn, xảo ngữ hoặc là thấy người sang bắt quàng làm họ…vv… nên cứ lần lữa mãi cho tới bây giờ.
Năm 1968, sau khi tốt nghiệp Sư phạm Qui Nhơn, tôi chọn nhiệm sở tỉnh Phú Yên và được điểu về dạy học ở trường Tiểu học Hòa Hiệp (người ta quen gọi là Trường Cây Bảng) thôn Phú Hiệp. Mỗi sáng thứ bảy, tôi thường để ra khoảng 15 phút cuối của tiết Sinh hoạt học đường kể chuyện cổ tích, tập hát hoặc cùng học trò làm những cuộc “Văn nghệ bỏ túi”, coi như là món quà vui trước ngày tạm nghỉ.
Một lần, tôi cao hứng tuyên bố: “Bây giờ thầy trò mình cùng hát, vậy em nào biết cải lương, tân nhạc, dân ca, ngâm thơ... gì gì đó chẳng hạn, biểu diễn cho bạn bè cùng nghe cho vui”. Chưa dứt lời đã có hàng chục cánh tay hào hứng đưa lên. Tôi chỉ định hú họa một em, em này mạnh dạn đứng dậy tự giới thiệu:
-Thưa thầy! Em xin hát bài “Trách phận”.
Rồi không cần lấy giọng, em “zdô” liền: Thân thì trách thân (này), thân sao mà lận đận. Mình mà trách mình (này), số phận...
Vừa tới đây, bất đồ cả lớp cùng reo lên: “Bài này em cũng biết, em cũng biết…”. Rồi chẳng ai bảo ai, đồng loạt tiếp lời: … số phận sao cứ hẩm hiu. Bởi thân tôi, tôi cơ khổ tôi eo nghèo, nên vợ tôi nó không ở nữa, (mà) nó theo… Mỹ rầu… (rập ràng y như đã dày công luyện tập từ trước) cho tới đoạn kết của bài hát khiến tôi rất ngạc nhiên, tò mò hỏi:
-Ủa! Sao em nào cũng biết hát bài này vậy hả?
Cả lớp cùng đồng loạt (lại đồng loạt) trả lời:
-Dạ. Bài này của anh Ninh “bài chòi” ngoài xóm Ga ạ!
-Sao lại gọi là Ninh bài chòi?
Một em ngồi đầu bàn đứng dậy giải thích:
-Dạ. Cái bài chòi này của anh Ninh ai cũng thích, cũng biết và hát được cả ạ!
Câu trả lời khiến tôi càng tò mò, bèn hỏi thêm một câu, giọng nửa đùa nửa thật: “Này, cái anh này mặt đen, mặt trắng ra sao mà sáng tác ra bài hát hay đến vậy?” thì đứa nào cũng ngớ mặt ra nhìn nhau bẽn lẽn mỉm cười. Vốn cũng là người sính nhạc, thích hát và biết một số làn điệu dân ca nhưng của đáng tội, cái thể loại bài chòi này, quả thật từ hồi nào tới giờ, đây mới là lần đầu tiên tôi được biết đến. Vậy là tuy chưa gặp mặt, tôi đã rất có “ấn tượng” với Ninh; định bụng sẽ tìm dịp làm quen, hẳn là thú vị lắm đây; nhưng rồi sau đó mãi bị cuốn vào công việc thường nhật nên chưa có cơ hội gặp gỡ, rồi hầu như quên bẵng.
Tết năm đó, trường chúng tôi cắm trại Tất niên và tổ chức một buổi diễn văn nghệ sân khấu. Trong khoảng thời gian này, Phú Hiệp còn thuộc vùng mất an ninh, nên bà con ở địa phương hiếm khi được dịp thưởng thức các loại hình giải trí vui chơi, hát hò; khi nghe đêm diễn văn nghệ của thầy trò trường Hòa Hiệp có đàn trống đình huỳnh, ai cũng háo hức mong ngóng trông chờ, coi như một ngày hội; nhiều thanh niên các thôn phụ cận còn xin tham gia một số tiết mục góp vui.
Là trưởng ban văn nghệ, đồng thời là người cầm đàn đệm cho ca sĩ “cây nhà lá vườn”, tôi phụ trách việc tập luyện luôn cho các cô cậu, trong đó có một “em” tóc chấm ngang vai mặt mày xinh xắn đang học nghề y tá, có chất giọng khá hay nhưng hát chưa được... chuẩn nhịp lắm nên tôi ráng bỏ công ra kèm cặp. Trai gái cùng tuổi đôi mươi, lòng xuân phơi phới gần gũi nhau dần dà ít nhiều nhen nhúm tình cảm, có lúc thăng hoa, tôi đã mường tượng rồi một ngày kia, nàng sẽ cười xinh xinh bên anh chồng thầy giáo. Nhưng… sự đời tưởng zdậy mà không hẳn là được zdậy. Chương trình văn nghệ diễn ra phần đầu khá suôn sẻ, tới nửa buổi bỗng một anh chàng từ đâu xuất hiện sau cánh gà tìm tôi nói trống không:
-Này! Có thể nhường “mình” cầm đàn cho cô... Th. hát được không?
-“Vậy sao được!” Tôi ú ớ từ chối: “Chúng tôi đã... tập tành đâu đó, bây giờ…!?” Nhưng anh ta cứ nằn nì:
-Thông cảm đi mà! Đây là “người quen”. Cô ấy là người tui… tui thương đó!
Tôi ngần ngừ một lúc, rồi không hiểu sao lại đồng ý trao đàn cho anh ta. Và kết quả tiết mục “Đêm buồn tỉnh lẻ”... bể đến thê thảm. Lý do đơn giản, anh ta chỉ quen chơi đàn thùng, khi chơi ghi-ta điện, âm thanh lạ quá nên quýnh quáng bị lỡ nhịp!
Tiết mục vừa chấm dứt, Th. quày quả bước xuống sân khấu vẻ mặt hầm hầm, chẳng nói chẳng rằng, “nguýt” tôi một cái muốn đứt con mắt, và lạnh lùng một ra đi không (thèm)... trở lại! Vậy là tôi đành phải hát bài ca con cá: Em ơi! Nếu mộng không thành thì… thôi để chia tay với mối tình chưa kịp bén rễ.
Sau buổi diễn hôm đó, chúng tôi kéo nhau ra bãi biển Lò Một trải bạt mở tiệc “khao quân” với nhau, gọi là ăn mừng thắng lợi. Không khí vừa sương sương, bỗng đâu một anh chàng đội mũ rơm, mang theo một cây đàn thùng sứt sẹo tới đứng bên, tay chống nạnh nói trổng: “Mình nhập bọn có được không?” Tức thì hai ba giọng đồng thanh mời gọi: “Được. Nhào zdô. Nhào zdô. Càng nhiều càng đông vui. Không sao đâu”. Vậy là cuộc chơi tiếp diễn. Được một lúc, hắn gõ gõ vào thùng đàn ra hiệu: “Mình làm một bổn giúp vui được không?” Lại hai ba giọng hùa theo: “Được, được quá đi chứ”. Chẳng cần màu mè phi-lô, hắn cất giọng đề-pa ngay: “Thân này, trách thân này, thân sao mà lận đận...”. Bầu không khí dường như hẫng đi chốc lát rồi tự nhiên sôi động hẳn lên. Ôi! Cái giọng khàn khàn, thô mộc, đặc sệt giọng “Nẫu” của anh ta trong bối cảnh bình dị chân quê ấy nghe sao mà “bốc” không chịu được. Vậy là cả bọn bắt đầu dòm trước dòm sau, thấy vật gì gần mình nhất là tiện tay vớ lấy, trưng dụng làm “bộ gõ” vừa đánh nhịp, vừa… la hét loạn xà ngầu. Nào lon bia, đồ hộp, muỗng nĩa, chén bát, đồ ăn thức uống… thôi thì tha hồ nhảy múa, vương vải lung tung; tới lúc tàn cuộc, “đứa” nào mình mẩy cũng mang đầy thương tích. Ôi! Đúng là một chiến trường tồi tệ!
Đó là lần đầu tiên tôi giáp mặt Ninh, người phá bỉnh mối tình vừa chớm nở, nhưng lại trở thành người bạn thân thiết sau này.
… Có lẽ “Trách phận” do lời lẽ chơn chất, âm điệu gần gũi với giới bình dân nên đã là một tiết mục đặc sắc được nhiều nghệ sĩ biểu diễn thành công và hấp dẫn người xem; khán giả thưởng thức thường được cười thỏa thuê, và vui... hết cỡ. Có nghệ sĩ khi tới trường đoạn bi thương còn thêm thắt: lấy từ trong túi một cái khăn đã nhúng nước, giả đò lau mắt rồi vắt chảy ròng ròng để gây cho cái cười thêm phần... ướt át! Có điều đáng buồn, dẫu nổi tiếng là vậy nhưng người cha đẻ ra đứa con tinh thần tuyệt vời này lại rất ít được người đời biết tới; trong thời buổi tranh tối tranh sáng còn có “Vị” khi đem “Trách phận” lên sàn diễn được người hâm mộ phỏng vấn, cứ cười cười (chơi trò đánh lận con đen) không xác nhận, mà cũng hỗng thèm phủ nhận mình có đúng là tác giả hay không. Phần Ninh, vốn là người trầm tĩnh, ít ồn ào khoe mẽ nên mỗi khi ngồi bù khú với bạn bè, nghe họ kháo chuyện và tức khí “giùm” mình vẫn cứ làm thinh, giữ vẻ bàng quang như đó là “chuyện” của thiên hạ, chỉ khi nào cao hứng mới lập lại trật tự bằng cách mở lời “Nẫu ca” để cho lũ nồi-niêu-soong-chảo được dịp nhảy múa, thêm vui cửa vui nhà thôi.
Tuy được nhiều người ưa chuộng là vậy, nhưng thật ra trước đây Nẫu ca Trách phận cũng chỉ mới phổ biến trong phạm vi hạn hẹp, phải tới khi anh Phan Bá Chức (cũng là bạn rất thân thiết của Ninh) biên soạn và ký âm lại, đem xuất bản, rồi nhiều nghệ sĩ biểu diễn, thu âm, phát thanh trên các phương tiện truyền thông thì mọi người trong nước và hải ngoại mới biết tới.
Tôi nhớ hình như khoảng năm 1984 có dịp vào Sài Gòn, ghé tiệm sách thấy một xấp nhạc rời (sau năm 75 loại nhạc rời hầu như biến mất) liền tò mò lật ra xem chợt bắt gặp cái tên Trách phận (Lời: Nguyễn Hữu Ninh – Ký âm: Phan Bá Chức) liền mua một bản đem về, hí hửng đạp xe qua Phú Hiệp gặp Ninh định khoe công trạng, không ngờ hắn vẻ mặt tỉnh bơ: “ Biết rồi, tao nhận trăm hai tiền nhuận bút (Chức gởi ra) nhậu sạch rồi còn gì”. Tẽn tò nhưng cũng thầm mừng cho Ninh có được người bạn quý.
Theo một số người am hiểu thì Nẫu ca Trách phận được viết theo điệu Xuân nữ, một làn điệu dân ca thuộc khu Nam Trung bộ, trong tập “Ca Dao&Dân ca trên vùng đất Phú Yên” cũng có in bài Trách Phận do nhạc sĩ Lương Văn Thanh ký âm theo điệu này. Còn hoàn cảnh sáng tác thì Ninh đáp: “Gì mà đao to búa lớn thế? Chẳng qua gặp lúc cao hứng viết ra, đem hát chơi rồi người ta thích, người ta truyền miệng chứ có gì đâu”. Vậy thì xin mạn phép vẽ ra một bối cảnh thế này: Dạo đó chiến tranh lan rộng ngày càng ác liệt. Phi trường Đông Tác phải mở lớn, chạy dài tới sát nách thôn Phú Hiệp, kéo theo những snach-bar mọc lên san sát để đáp ứng nhu cầu cho đám binh lính viễn chinh đồn trú bảo vệ. Có lẽ ở xóm Ga này, Ninh là người được tiếng có chữ nghĩa nên thỉnh thoảng các chị em ta (phần lớn đều nhà nghèo, thất học hoặc có thân phận lỡ làng) thường nhờ đọc giúp hoặc viết giùm thư từ cho người nhà hay bồ bịch, người yêu… vv. Phải chăng những mảnh đời trôi nổi, trái ngang, những nỗi niềm tâm sự u trầm uất nghẹn phơi bày ra trước mắt làm cho Ninh cám cảnh mà viết ra Trách phận?
Ngoài giao tình văn nghệ, Tôi và Ninh còn có chung một sở thích khác, ấy là ưa đi giang hồ vặt. Hồi còn dạy học ở Hòa Hiệp, một lần cùng bạn bè nhảy tàu vào Đại Lãnh chơi, bước xuống ga thấy cảnh biển-trời mây-núi đẹp quá, tôi cầm chiếc máy ảnh lia một vòng định chụp vài tấm hình kỷ niệm, xui sao một bà đang ngồi ị trong lùm cây gần đó hiểu lầm đứng dậy một tay xách quần, một tay chỉ chọt chửi một trận te tua vuốt mặt không kịp, khiến cả bọn kéo nhau chạy vắt giò lên cổ; tưởng đã yên chuyện, không ngờ lát sau còn bị mấy anh lính an ninh thiết lộ, chận đường đòi tịch thu máy ảnh; may sao, trong số đó có một người biết Ninh bài chòi can thiệp giùm mới thoát nạn.
Tôi còn được nghe một chuyện gần như giai thoại về Ninh; ấy là vào hè năm 197… Ninh cùng một nhóm bạn học ra Qui Nhơn (không phải thi vào trường Sư phạm như mấy người kia mà chỉ để rong chơi); tới ga Phước Lãnh, tàu dừng lại chờ khách lên-xuống. Ninh bâng quơ nhìn qua cửa sổ, thấy một ông già mù ngồi trước sân ga, van nài khản cả giọng chẳng ai cho, bèn đội mũ lác, tròng mắc kính đen (vật bất ly thân của hắn) vào rồi xách cây đàn thùng xuống xìa đít kế bên, lên tiếng… Trách phận, đến khi tàu chuyển bánh chạy tiếp, nghe đâu số tiền những người hảo tâm bỏ vào mũ ông già cũng hòm hòm đầy túi.
-“Nói thiệt, là bạn lâu năm của Ninh, tuy biết tính hắn có lúc “ngông ngông” nhưng…” Anh bạn kia vừa cười vừa dí dỏm kể: “nhưng gặp hoàn cảnh này mình cũng đành chào thua”. Chả biết anh chàng này có thêm mắm thêm muối ít nhiều gì chăng, nhưng tôi đoan chắc một điều: Nếu như Ninh đã lên tiếng than thân trách phận bằng Nẫu ca, người ta không móc hầu bao ủng hộ mới là chuyện lạ!
Lúc đó, tôi cũng tức cười, đía vào một câu:
-Đúng là con người ưa thương vay khóc mướn!
Đối với tôi, Trách phận là một bài hát kỷ niệm khó quên kể từ buổi đầu gặp gỡ. Sau này, dẫu nhiều lần được nghe những ca sĩ chuyên nghiệp hát với dàn nhạc đệm xôm tụ, nhưng chưa bao giờ tôi có được cái cảm giác thăng hoa như lần cùng nhau bù khú giữa bầu trời đêm thô mộc ngoài bãi cát Lò Một. Duy chỉ một lần nghe anh Nguyễn Đình Cai với chất giọng nhừa nhựa (do tuổi tác), hào hễn Trách phận góp vui trong buổi dạ tiệc đồng hương, mới chợt rưng rưng, bất ngờ vì thấy trên đất Mỹ giàu sang hoa lệ này, bà con mình vẫn còn thích nghe và hát Nẫu ca để nhớ về quê mẹ.
… Khoảng năm 2.00… nhân một cuộc hội thảo văn nghệ dân gian, nhóm đàn ca sáo thổi chúng tôi có tham gia minh họa một số bài dân ca ở sân trường Cao Đẳng Sư phạm Phú Yên, riêng Ninh (dẫu muộn màng) cũng được mời lên trình bày tác phẩm Nẫu ca Trách phận của mình nhưng hình như không cảm thấy hào hứng mấy.
*
Cuối cùng thì sự thể cũng đã xẩy ra y như nó phải thế, Ninh nhẹ nhàng đi về vùng trời miên viễn sau một một thời gian lâm trọng bệnh. Dạo này Ninh thường mang chiếc đàn YAMAHA (nghe đâu của người em từ nước ngoài gởi về tặng ông anh) tới nhà bạn bè hát một số bài do mình mới sáng tác, đáng tiếc gặp đâu bỏ đó nên không ai tập hợp lại được. Tiễn đưa Ninh đến tận nghĩa trang có cả những người bạn quen lẫn chưa quen nhưng ai ai cũng đều tỏ lòng thương tiếc. Có lẽ lúc sinh thời, Ninh cũng không ngờ tình cảm người ta dành cho mình ướt át đến thế. Đứng lơ ngơ giữa bầu trời lộng gió với ngổn ngang nỗi niềm tâm sự, Tôi bâng khuâng nhìn những khuôn mặt sướt mướt nhạt nhoà thoạt ẩn thoạt hiện xung quanh, bỗng dưng bần thần ngẫm ngợi: người ta mỗi khi nghe hay hát bài ca Trách phận thường cười đùa vui vẻ, nhưng không hiểu, có một lúc nào đó, sau những phút giây hả hê sung sướng, liệu có ai ứa được, dù chỉ một giọt nước mắt nhỏ nhoi cám cảnh cho thân phận của nhân vật (người chồng bị vợ bỏ quên) trong bài hát như Ninh đã hóa thân “thương vay khóc mướn”?!... Và, đằng sau than thân trách phận có còn điều gì đáng cho người đời suy gẫm xét soi??...

Viết như một nén nhang thắp tình bè bạn
San Jose tháng 01/2011
Nguyên Đạt

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

HỌP MẶT ĐỒNG MÔN

Bảo Thắng K5

Nga Sơn chim hót tự đỉnh đồi
Liên tưởng ai về Thu nắng rơi
Bướm ong không đến cây vàng úa
Mai - Cúc tủi hờn Trúc Lan ơi


Tiếng nhạc âm vang rộn tiếng cười
Dạc dẫu thân cò vẫn rong chơi
Hà Mừng son sắt tình Chung thủy
Vĩnh Tuyến sum vầy quả thêm vui

Văng vẳng đâu đây âm điệu rung
Chuyện cũ dòn tan mãi khôn cùng
Thắng trận buông dao mình gác kiếm
Nguyệt thực Giao-Hòa tiễn Thu đông

Về chiều tóc ngả điểm sương rơi
Sư phạm tình người vẫn xanh tươi
Đồng môn bằng hữu Chung số kiếp
Mãi mãi bên nhau quyết chẳng rời

Et-Pi-Quy-En vẫn còn đây
Thắm thiết tình đời mãi dựng xây
Tuấn - Vân giao cảm nồng men rượu
Bạn cũ trường xưa mãi sum vầy

HỌA THƠ BẢO THẮNG

Trên đỉnh Nga Sơn chim ríu rít
Nắng ngọt ngào trong Liên khúc thu
Lá vàng chi động tình ong Bướm
Cúc - Trúc- Mai - Lan vội trở màu

Khu vườn Sư Phạm bên trời lạ
Nhạc Hòa như gọi bốn lăm năm
Mừng Hà đôi bóng về Chung lối
Năm nốt bâng khuâng một Nguyệt cầm

Nâng chén hôm nay là đã Thắng
Là Vĩnh viễn trên một Tuyến đường
Bức tranh Vân cẩu: đời tan hợp
Tiếng cười xanh lại tóc pha sương

Tuấn mã mai đưa về quê cũ
Dõng Dạc còn Ét-Pi-Quy-En
Bước giữa Giao mùa hong nắng mới
Tìm lại từng thầy, bạn, trường quen


ĐẶNG KIM

Ôi! TIẾNG HUẾ CỦA TÔI


Phan Cư K5

Tôi xa quê hơn 40 năm. Sống ở nơi đất khách quê người, tiếp xúc đủ hạng người, đủ thứ tiếng nói nhưng tôi vẫn giữ giọng Huế rặt của mình. Mỗi lần về thăm quê, tôi rất thích đi chợ Đông Ba, không phải để shopping mà để nghe giọng Huế. Đi vào chợ là tràn ngập những âm thanh quen thuộc; trên đầu, dưới chân, bên phải, bên trái đâu đâu tôi cũng nghe những tiếng nói yêu thương, tiếng nói “ấm trầm mà sâu lắng lạ”.
Cũng vì giọng Huế “rặt” không pha trộn mà tôi hay bị bạn bè chọc là “nói chi mà trọ trẹ rứa” hoặc “Sao nói chi mà nghe đặc sệt mùi mắm ruốc vậy”. Nhiều khi vui nhậu cùng thân hữu, tôi nghêu ngao sửa lời bài hát của Phạm Duy: “Tôi yêu tiếng Huế tôi, từ khi mới ra đời…”
Cũng vì mỗi tỉnh, mỗi miền đều có tiếng nói riêng mà nhiều khi người ta choảng nhau cũng bởi nhại giọng, “chửi cha không bằng pha tiếng” là vậy.
Do sự biến âm hoặc phát âm mà đôi khi tiếng Huế mang lại cho người ngoại tỉnh nhiều nhận xét thú vị.
Phải nói Huế là đất thần kinh, đất của học hành thi cử nên từ xa xưa người Huế đã rất yêu thích đọc thơ, làm thơ, do vậy giọng nói nhiều khi cũng du dương trầm bổng như ngâm thơ vậy. Một người bạn tôi ở trong Nam, nhân một lần ra công tác ở Huế đã chứng kiến và kể lại cuộc đối đáp của một bà già bán quán tạp hóa và một bé gái khoảng chín, mười tuổi:
-Mụ bán cho tui chai nước mắm.
Giọng nói lên bổng xuống trầm (có nhạc điệu) của em bé khiến bà chủ quán phì cười “mắng yêu”:
-Tổ cha mày, rứa cũng làm thơ.
Anh bạn này cho rằng bà già bán quán nói cũng hay như đọc thơ vậy.
Cũng có lẽ vì cái giọng thơ, cái giọng ngọt ngào, trầm ấm đó mà ngày xưa mấy anh học trò xứ Quảng ra thi đã liêu xiêu đôi chân khi gặp người con gái Huế:
Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế, chân đi không rời
Thế nhưng tiếng Huế đôi khi cũng tạo ra cho người xứ khác những hiểu lầm dẫn đến những trận cười vui vẻ.
Chẳng hạn, người Huế khi phát âm những tiếng có dấu hỏi (?) hay dấu sắc (‘) thì người khác tỉnh thường nghe ra là dấu nặng (.).

Xin được kể lại mấy câu chuyện sau đây:
Chuyện thứ nhất:
Có một anh người Huế làm Phường trưởng ở huyện Hòa Vang gì đó thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Một hôm họp liên tịch ở phường, thành viên dự họp hầu hết là người Quảng, người Nam hay Bắc. Như thường lệ, anh Phường trưởng đứng dậy điểm danh. Anh hỏi:
-Bên chị em phụ nữ đủ chưa?
Cả hội trường, mọi người cười cái rần. Anh phường trưởng ngẩn người, không hiểu gì cả nhưng vẫn tiếp tục điểm danh:
-Nông dân đủ chưa?
Bây giờ thì mọi người tham dự òa lên cười ngặt nghẽo. Lần này anh phường trưởng lại càng ngơ ngác nhìn mọi người rồi cũng ngỏn ngoẻn cười theo.
Khi tan họp, anh hỏi nhỏ một bác người Quảng trong hội nông dân:
-Răng hồi nảy tôi điểm danh, mọi người lại cười dữ rứa?
Bác nông dân vỗ lưng anh ta, cười khà khà:
-Eng nói lọa rứa. Đủ chưa thì nói đủ chưa, cứ đ. chưa, đ. chưa, ai mòa không cười.
Chuyện thứ hai:
Một anh thanh niên Saigon vào hớt tóc ở một tiệm hớt tóc thanh nữ. Cô chủ tiệm là người Huế, sau khi mời anh ngồi vào ghế, lấy khăn quàng qua người xong, lên tiếng hỏi khách:
-Anh cắt dài hay cắt ngắn? (Xin lỗi! Hiểu sao thì hiểu. Không dám diễn nôm)!
Anh chàng Saigon nghe vậy thốt nhiên hốt hoảng đứng bật dậy, cuốn gói bỏ đi một mạch, mặc cho cô thợ hớt tóc đứng ngẩn tò te tiếc rẻ nhìn theo.
Chuyện thứ ba:
Một anh người Huế vào Saigon thăm người con đang học đại học. Đang loay hoay tìm đường thì gặp một người cảnh sát giao thông đi tới. Anh mừng rỡ hỏi:
-Đường ni là đường mô ri eng?
Anh cảnh sát sửng người suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu:
-Đường này không phải là đường Mô-ri-en mà là đường Nguyễn Huệ.
Anh người Huế nghe ra, thẩm ý thẩm tình lỏn lẻn cười, tiếp tục đi tìm người chỉ đường khác…
Tôi có một thằng bạn người cùng làng, nhỏ học trường Huyện, lớn lên rủ nhau thi vào Sư Phạm Qui Nhơn. Ông nội hắn vốn là một người thông nho lại còn biết cả chữ quốc ngữ, đặt tên cho người anh là Lễ, hắn là Nhạc. Cũng do tiếng Huế chữ nhờ (Nh) thường kêu bằng âm dờ (D) nên khi đi làm giấy khai sinh đáng lẽ viết Nguyễn Nhạc thì ông Lục sự lại phóng bút ra Nguyễn Dạc (trong tự điễn chữ dạc chỉ là tiếng đệm chứ không có nghĩa gì hết). Vậy là từ đó hắn phải mang cái tên bất như ý suốt đời.

Ra trường vào dạy học ở Phú Yên, người bản địa thường đọc chữ vờ (V) thành chữ dờ (D); nên cứ ngỡ hắn là tên Vạc, mỗi lần tiếp xúc, phụ huynh học sinh sợ gọi tên Dạc e không đúng, có lỗi, bèn một điều thưa thầy Vạc, hai điều thưa thầy Vạc khiến thầy dở khóc dở cười chả biết đường nào mà đính chính!
Tiếng Huế của tôi là vậy đó; khi dịu dàng, khi trầm ấm, khi mượt mà như thơ mà đôi khi cũng tạo cho người nghe khác tỉnh những cảm nhận thích thú và trào lộng, một sự trào lộng rất dễ thương
Ôi tiếng Huế của tôi!



Dalat 27.8.2010
Cuphandalat