Hiển thị các bài đăng có nhãn TẠP BÚT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẠP BÚT. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011

CHÉN MẮM CÒNG ẤM LÒNG ĐÔNG GIÁ


Mùa đông bất chợt trở về ôm lấy mùa thu chưa kịp bỏ đi, những gợn mây buồn vẫn mãi hoài ngự trị giữa bầu trời xám xịt do ảnh hưởng bởi cơn áp thấp nhiệt đới gần bờ hơn cả tuần nay. Cái rét lẫn vào cơn gió đầu mùa chưa đủ lạnh, nhưng cũng đủ làm cho những người xa xứ cảm thấy buồn buồn, nhớ nhớ về nơi chốn quê nhà thân thiết ngày xưa với những buổi theo cha đào bắt còng biển làm mắm cải thiện bữa ăn hằng ngày trong gia đình suốt khoảng đời ấu thơ gian khổ.
… Quê nhà tôi là một làng chài nhỏ bé thuộc vùng duyên hải miền Trung, nằm sát ven biển Tuy Hòa tên gọi Đông Tác. Hồi ấy, đoạn từ Mỹ Á đến Bãi Dài còn nguyên là những bãi cát trắng phau nối tiếp mọc đầy cây dại và rau muống biển; mỗi khi mùa đông tới, đây chính là nơi lý tưởng cho mấy chú còng biển (thường ở cách bờ khoảng một hai cây số) di cư vào, đào hang trú ẩn.
Mùa đông là mùa biển động, bà con làng chài không ra khơi thả lưới buông câu được nên rất nhàn rỗi; những gia đình nghèo nếu thiếu tiền đi chợ thì mắm còng chính là món ăn dễ kiếm, giúp bà con chế biến thêm vài món mặn miệng trong bữa cơm hằng ngày cho qua những ngày giá rét. Đối với lũ trẻ con lóc nhóc hiếu động và ham vui như chúng tôi, được theo người lớn đi bắt còng biển cũng là cái thú, nhiều hôm gió mưa tầm tã, người ướt như chuột lột, mình mẫy lạnh cóng nhưng ai nấy đều cảm thấy thỏa mãn sướng vui.
Còng biển thường đào hang sâu tới nửa mét, không vòng vèo lắt léo gì lắm nhưng muốn bắt được nó không hẳn là dễ, phải vừa dùng cuốc, dùng tay để đào thật nhanh, mỗi buổi chộp được khoảng năm chục con bỏ vào thùng thiếc cũng được gọi là giỏi; về nhà, nhín bớt năm mười con đem biếu hàng xóm láng giềng hoàn cảnh đơn chiếc ốm đau coi như san sẻ ít nhiều khó khổ với nhau. Mùa này còng biển không to con nhưng mình thon, thịt chắc, màu trắng, có gạch nhiều và đặc biệt là sạch vì chúng vốn không ăn tạp, chỉ ăn thuần cỏ non nên trước khi chế biến thành mắm chỉ cần bỏ vào nước rửa sạch, xỏ lòi chừng bảy, tám con vào một cái que vót nhọn rồi đem nướng; mùi chín vàng tỏa ra thơm lựng khắp nhà khiến mọi người tự nhiên cảm thấy thèm cơm, bụng đói cồn cào. Tiếp đến tách bỏ mu còng, vặt bỏ chân, chỉ để càng lớn và đem quết nhuyễn với lá é quế, xong, trộn nước mắm nhĩ giã ớt tỏi chanh đường. Sau khi chế biến xong, ta đã có một tô mắm còng màu vàng gạch, nước sền sệt, béo và mùi thơm rất đặc biệt, không phải là vị thơm của còng gió, còng cát hay cua đồng mà là một vị thơm đặc trưng của còng biển mùa biển động, ngon không chê được.
Tháng chín, tháng mười đến, cơn gió mùa đông trở về với những đợt gió se lạnh thường dừng chân bên cửa sổ, tiếng mưa rả rích ngoài hiên nhà tấu thành điệu nhạc trầm buồn man mác khiến lòng người thêm se sắt sầu thương; một tô mắm còng được đặt giữa mâm cơm nóng sốt cộng với dĩa rau lang hay rau muống luộc là một bữa ăn được gọi là “ hấp dẫn”, ngôi nhà đột nhiên ấm cúng hẳn lên làm ai cũng thấy ngon miệng, ních đến đầy bụng, bới “lủng cả nồi”.
Đối với dân nhậu thì bánh tráng nhúng, cuốn với rau sống chắm mắm còng cũng là món khoái khẩu của bà con bình dân quê tôi bên bếp lửa chiều đông mờ tối đấy bạn ạ!
Xa miền Đất Phú Trời Yên lâu ngày, được du lịch nhiều nơi, thậm chí bây giờ được may mắn qua định cư tận nước Mỹ (miền đất hứa bao người mong ước); được thưởng thức nhiều món ngon vật lạ, đặc sản của nhiều vùng miền nhưng hương vị của chén mắm còng mặn mòi ngày cũ nơi quê nhà vẫn còn mãi hoài đọng lại trong ký ức tôi…

Tháng 4/2009
ĐÔNG HẢI K9

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

NGẢ RẼ ĐƯỜNG ĐỜI


Trong cơn hoảng loạn của những ngày cuối cuộc chiến tháng 3 năm 1975, tôi cũng như những người dân hai tỉnh Quảng Trị Thừa Thiên khác, tay xách nách mang kéo nhau chạy vào Đà Nẵng để sau đó tìm cách xuôi Nam mong tìm con đường sống, nhưng vì bụng mang dạ chửa, đành phải quay về trình diện Ty Tiểu học xin trở lại nhiệm sở. Nhận lớp dạy được một tháng lại xin nghỉ hộ sản, định nghỉ trước một tuần để chuẩn bị ai dè mới ba hôm đã đến ngày sinh.
Huế mớí đổi chủ khoảng hơn một tháng, thiên hạ di tản khắp nơi, có người lọt ra được nước ngoài, người còn ở lại Sài Gòn, Nha Trang… chưa trở về. Bệnh viện Huế cũng vậy, Bác sĩ, nhân viên cũ chỉ còn lại một số rất ít, thay vào đó là những y công, bác sĩ, y tá toàn người miệt ngoài giọng nói lạ hoắc nên khi chuyển bụng vào Bệnh viện Trung ương Huế nằm chờ, tôi lo sợ đủ điều. Sinh nở lần đầu không là chuyện dễ, phải đợi qua một đêm đến trưa hôm sau, sắp lên bàn sinh thì may đâu, một nữ hộ sinh Quốc gia xuất hiện, bao lo âu sợ hãi không còn, thay vào đó là nỗi vui mừng khôn kể. Gặp được cô đỡ người Huế, nhờ Trời thương Phật độ mọi sự tiếp theo sau xẩy ra tốt đẹp, mẹ tròn con vuông.
Ba tháng nghỉ hộ sản qua mau, tôi lại phải tay xách nách mang bồng con trở lại trường ở tập thể, tiếp tục công tác. Sáng dạy, chiều lo giáo án và đủ thứ chuyện linh tinh khác; giờ ra chơi lại phải ba chân bốn cẳng chạy về cho con bú. Giày cao gót, áo quần tha thướt nay đã hết thời, thay vào đó là áo bà ba quần đen cũng tiện cho việc chạy nhanh về với con.
Sau tháng tư năm 75, hầu hết giáo viên phải bán đi một số đồ điện như quạt máy, bàn ủi và những bộ áo dài, áo lông, quần tây và vài thứ vặt vảnh khác để có thêm tiền sinh sống. Một số được sửa lại thành bà ba để mặc với quần chéo đen được mua theo tiêu chuẩn tem phiếu hai năm 5m do “nhà nước” cấp. May nhờ quần áo trước 75 còn lại khá nhiều nên cũng dùng được khoảng hơn chục năm. Ăn thiếu nhưng mặc cũng tạm đủ. Nhiều bạn chưa quen với cách ăn mặc qúa đơn giản, muốn thẳng thớm một chút cứ việc xếp vuốt áo quần đàng hoàng dằn dưới gôí là sáng ngày có đồ thẳng nếp để lên lớp.
Nơi tôi dạy là một cơ sở lẻ ở đình Phổ Lại cách trường chính khoảng 5 phút chạy bộ. Trường tôi nằm bên tỉnh lộ, từ Huế theo QL1 hướng bắc, đến An Lỗ rẽ phải về phía chợ Sịa, một chợ lớn ở thị trấn Sịa thuộc huyện Quảng Điền. Giáo viên dạy các trường quanh vùng An Lỗ, Sịa, một số đạp xe đạp, số khác đi xe đò, các thầy cô độc thân mỗi tuần lên Huế một lần, về với gia đình để được bồi dưỡng vì cả tuần ở lại trường ăn cơm tập thể với mấy con cá “long hội” và canh” toàn quốc “ nên không đủ dinh dưỡng và sức khỏe tốt để lên lớp.
Ngày ngày chị nuôi phục vụ hai lần cơm trưa và tối cho khoảng ba chục giáo viên ở tập thể, đa số là các thầy cô gốc ở thành phố; mỗi lần một nồi cơm lớn gạo tồn kho lâu đời trộn với sắn, khoai hay bo bo, it có cơm rời vì cơm bao quanh những chất độn. Mỗi bàn ăn khoảng từ 4 đến 6 ngườì gồm một tô canh rau, môn hay nưa gì đó nấu loãng và một dĩa cá vụn hay tôm tép; những người ăn nhanh còn có chút mặn miệng, riêng tôi vì tội ăn chậm nên luôn bị thiệt thòi, chỉ nếm được chút hương vị nước canh còn lại ở đáy tô, chưa bao giờ biết cọng rau non già cứng mềm ra sao.
Cũng may nhờ bản chất siêng năng, dạy dỗ đàng hoàng, năm nào cũng đạt danh hiệu giáo viên tiên tiến xuất sắc; điều này có thể không nói lên được điều gì, nhưng tôi nghĩ thời nào cũng vậy, nếu thầy cô biết trang bị cho học sinh có kiến thức để ứng xử với đời, dạy cho con em biết những điều nhân nghĩa để sau này trở thành một người tốt, biết phân biệt trắng-đen, phải-trái là không hổ thẹn với lương tâm, là làm tròn thiên chức nhà giáo, không phụ với ngôi trường Sư phạm Qui Nhơn, nơi mình đã xuất thân là được rồi.
Sau 4 năm chịu thương chịu khó ở trường xa, tôi may mắn hơn các bạn khác, được hiệu trưởng sở tại thương tình đề nghị với Hội đồng Ty Tiểu học cho chuyển lên Huế, gần nhà, thoát nạn cơm tập thể lại được sống trong gia đình có anh em hổ trợ cả tinh thần lẫn vật chất (mặc dầu thời đó ai cũng khó khăn chỉ giúp nhau rất khiêm tốn nhưng cũng được an ủỉ rất nhiều).
Về nhà, mọi việc thuận lợi, con đã lên bốn có thể gởi vào mẫu giáo nhỏ; đời sống có phần ổn định nên đầu óc bớt căng thẳng hơn. Nhiều lúc nhớ lại đoạn đường đã qua mà cảm thấy nao lòng; nội quy của nhà trường không ai được nấu riêng hao tốn củi lửa nên muốn cho con có bữa ăn (không trộn lẫn chất độn) hằng ngày, tôi đã nẩy ra sáng kiến: lấy một túm gạo đem vo sạch, bỏ vào túi vải thắt lại đem gởỉ vào nồì cơm tập thể cho tiện việc. Muốn kho chút thịt cá cho con thì phảỉ chờ tới cuối tuần bếp tập thể nghỉ chỉ còn lại mấy gia đình có con nhỏ, và mấy giáo viên người Quảng Bình vào ở cố định nấu nướng luôn. Có con nhỏ, việc di chuyển khó khăn nên cứ khoảng năm sáu tuần mới về nhà một lần lo cụ bị vài món đồ khô để dành cho con ăn lần. Tội nghiệp, con cái nhỏ dại cũng phải chịu khổ lây. Có một lần, và chỉ một lần độc nhất tôi nhớ mãi. Suốt ngày hôm đó ôm con đi họp đến chiều về không còn chút gì, đành phải rưới nước mắm vào cơm cho nó ăn tạm. Nhìn đứa con thơ há miệng, cố trệu trạo nhai nuốt mấy muỗng cơm thiếu dinh dưỡng mà lòng đau như cắt, không kiềm chế được, tôi đã mặc tình để cho những dòng nước mắt tuôn rơi lả chả.
Tiêu chuẩn lương thực được cấp cho giáo viên mỗi tháng lúc đầu là 15kg (gạo +khoai-sắn+bobo), con ăn theo 5kg nhưng sau vì kinh tế khó khăn nên bớt xuống còn 18kg cho cả hai. Biết lương thực như vậy không đủ nuôi sống nên các xã có kế hoạch cung cấp ruộng và đất khô cho nhà trường để giáo viên cải thiện đời sống. Thế là các thầy-cô nay phải bắt buộc học thêm nghề mới: làm nông. Từ nhỏ chỉ biết cắp sách tới trường, lớn ra đời đi dạy, quen với phấn trắng bảng đen chưa bao giờ biết việc đồng áng, nay phải tham gia sản xuất lao động chân tay: cuốc đất trồng khoai sắn, không quen làm lụng tay chân nên bàn tay phồng lên, đêm về phải lo bóp muối để sáng mai làm tiếp. Khổ nhất là đi cấy lúa cắm đầu xuống đất không quen nên rất khổ, khi gặp đỉa đeo thì hồn phách lên mây, mặt tái xanh, miệng la oai oái.
Để giảm nhẹ công việc, trường thuê trâu cày ruộng trước, giáo viên nhổ mạ trước một ngày, ngày sau bắt đầu giăng hàng ngang tiến quân xuống ruộng. Có bạn sức yếu, nhát gan mới tớí bờ đã té xỉu chỉ vì thấy mấy chú đỉa bơi dưới ruộng, không vì hãi sợ mà bỏ cuộc được, rốt cuộc cả đoàn cùng lội xuống cố gắng làm việc. Có giây giăng sẵn chỉ cắm mạ xuống sâu cho thẳng hàng thì dễ qúa nhưng hôm đầu mới cấy được mấy bụi, đột nhiên thấy nhột nhột, tôi ngoái nhìn xuống thì eo ôi! một con đỉa to tổ bố đang bám chặt vào bắp chân, hoảng qúa, tôi vừa nhảy tung tóe vừa khóc la ỏm tỏi, may đâu anh hiệu trưởng người Quảng Bình đã quen viêc đồng áng bước tới, cười cười bảo: “Bình tĩnh, bình tĩnh để tôi bắt cho”, anh ta liền nhổ nước miếng vào và tuột con vật hút máu một cách nhẹ nhàng. Ôi! Một phen hú hồn, mãi hồi lâu tôi mới lấy lại được bình tĩnh và tiếp tục công việc.
Tiếp theo ngày cấy lúa là ba bốn ngày đau, toàn thân rã rời, bước đi không vững, người như bị ai giần chập nát thịt da. Cấy mạ được một hai tháng gì đó lại tập họp làm cỏ lúa, lại phải lội xuống ruộng lần nữa; tuy sợ đỉa nhưng ở thế bắt buộc nên rồi phải cùng nhau làm, có làm thì mới có công điểm, mới được chia lúa; tránh việc không những không được phần lúa lại còn bị kiểm điểm, bị phê bình không chấp hành chính sách cải thiện đời sống của nhà nước, thôi thì khổ thân còn hơn khổ não.
Khi lúa đã chin vàng trĩu hạt không còn sức chịu đựng được ngã rạp theo chiều gíó, một lần nữa đoàn quân lại đổ bộ xuống ruộng với tay liềm tay hái lao động gặt hái đem về rồi đua nhau đập lúa, phơi lúa, phơi rơm đầy cả sân trường vào những ngày học sinh nghỉ, cô thầy chia phiên nhau cào lúa, trở lúa, phơi rơm tấp vào bếp tập thể; lúa được chia phần theo công điểm. Tiếng là làm để cải thiện đời sống nhưng thực tế chia chác chẳng bao nhiêu mà mệt hết hơi. Lần đầu tiên trong đời sau bao nhiêu năm miệt mài sách vở trường lớp, chân giày tay dù, tưởng đâu chỉ biết “trồng người” nay lại biết thêm nghề “trồng cây” để giải quyết bao tử. Thôi cũng nên “cám ơn đời” vì dẫu sao mình cũng có thêm chút vốn liếng và kinh nghiệm sống.
Ngoài số hàng theo tiêu chuẩn tem phiếu, mỗi tháng giáo viên còn được mua hai góí trà, hai bao thuốc lá Tam Đảo, vài trăm gram đường, thỉnh thoảng có kem đánh răng. Được bao nhiêu đều đem bán hết để có thêm tí tiền mua thức ăn, vì thế giáo viên ai cũng thuộc nằm lòng mấy câu thơ mà chẳng biết người nào là tác giả:
Nhà trường nhường trà uống nước trong.
Thầy giáo tháo giầy mang dép lốp.
Hoặc: Giáo chức dứt cháo đón xuân sang… vv… và… vv…
Sau 75, cũng vì đời sống không ổn định nên có nhiều gia đình hai vợ chồng cùng là giáo viên lại đông con, vì chạy giặc mất sạch sành sanh, trở về với hai bàn tay trắng, nheo nhóc đến tận cùng phảỉ kiếm sống bằng đủ loại ngành nghề, gặp người quen hỏi chuyện: -Bữa ni làm gì? Bèn ngỏn ngoẽn trả lời: -Thợ đụng!
-Nè. Thợ đụng là gì hả?
-Là… Là đụng gì làm nấy đó mà…
Ngôi trường ở vùng đất thấp gần đồng ruộng nên cứ đến mùa mưa là phải đôi ba lần dọn lụt. Nếu lụt nhỏ thì còn đỡ, chỉ việc chuyển đồ đạc từ nhà tập thể lên các lớp học có nền cao hơn. Ai có con nhỏ ở chung phòng, kê hai ba bàn học sinh lại làm giường, kiếm chỗ đóng đinh lên tường để giăng mùng, sống dã chiến cho qua những ngày nước lớn.
Một lần nước bắt đầu lớn, tôi lo chuyển đồ dùng lên lớp, tay bưng lỉnh kỉnh các thứ, miệng dặn đứa con ba tuổi: ”Đứng yên đó, mạ bưng đồ lên chạy xuống đón con liền”; không ngờ khoảng năm ba phút gì đó, vừa chạy xuống thấy thằng bé đang bơi trước thềm nhà tập thể, xuôi theo dòng nước chảy về phía ruộng, tôi la thất thanh, run lập cập, các bạn chạy ùa tới bồng lên để vào giường vừa quýnh quáng thay quần áo vừa hú hồn gọi vía, e thằng nhỏ hồn xiêu, phách lạc mà trở thành… lú lẫn đi chăng?! Còn tôi lúc đó chỉ biết ngồi khóc tức tưởi. Cũng may Trời thương Phật độ nên sau đó cháu vẫn bình thường.
Một lần lụt lớn, những người có con mọn được ưu tiên dọn vào đình Phổ Lại, chỗ làng thờ phượng giờ đã trưng dụng làm lớp học, đó là chỗ cao nhất cách trường chính vài trăm mét. Đang mang nặng đồ đạc trên hai vai lội vào đình, thình lình thấy con rắn bằng chiếc đũa bơi theo, hồn vía như lên mây, may sao còn biết nhanh trí, dùng chiếc dép nhựa xua nó đi, qua một phen khiếp sợ. Tối hôm đó, mẹ con ôm nhau ngủ trên mặt bàn, mùng dằn dưới chiếu đàng hoàng thế mà nửa đêm bỗng nghe rớt cái “bịch” cùng tiếng khóc thét, cùng lúc đó mẹ con bạn H. nằm bàn kề bên la lên: “Cu T. rớt chị V. ơi”. Tôi giật mình đánh thót, mắt nhắm mắt mở quờ quạng bồng con lên, may sao, nhờ vướng mùng nên cháu không hề hấn gì chỉ vì thất kinh nên khóc ré đó thôi.
Bao gian nan lao lý qua rồi, giờ đây ôn lại đôi lúc tôi cũng tự phục mình và tất cả những người đàn bà cùng thời, cùng hoàn cảnh đã cố gắng vượt qua gian lao thử thách, không chịu ngã qụi trước mọi thử thách của cuộc đờì để tồn tại, để chờ ngày đoàn tụ với chồng con mãn hạn tù đày “cải tạo”. Viết đến đây nhắc nhớ lại câu nói rất thực tế của thầy dạy môn giáo dục cộng đồng ngày nào: “Người giáo viên phải biết thích nghi với mọi hoàn cảnh xã hội”. Rõ ràng, những kiến thức các thầy cô truyền thụ ở trường Sư phạm trước đây vẫn tiềm tàng trong chúng ta, khi ra đời xàì nó một cách tự nhiên, biết ứng xử đúng theo từng hoàn cảnh. Tiếc rằng sau bao cơn sóng gió, cuộc sống lao đao, đã không có cơ hội để gặp lại các thầy cô, để thăm hỏỉ chứ đừng nóí chi đến chuyện đền ơn, đành sống vong ân bội nghĩa ngoài ý muốn và tự sám hối.
Tất cả nay đã luì vào quá khứ. Đa tạ ơn trên vì Trời dành còn có hôm nay cho chúng ta được hít thở không khí tự do nơi quê hương thứ hai này. Tuổi đời ở ngưỡng cửa thất thập cổ lai chỉ biết :
“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta còn thêm ngày nữa để yêu thương”
Xin mượn bốn câu Kiều của Cụ Nguyễn Du để kết thúc những tâm tình của người viết:
Trời dành còn có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời
………………………………………
Lời quê góp nhặt giông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.


Sacramento, đầu thu 2011
Vinh nguyen (K4 SPQN)

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Ôi! TIẾNG HUẾ CỦA TÔI


Phan Cư K5

Tôi xa quê hơn 40 năm. Sống ở nơi đất khách quê người, tiếp xúc đủ hạng người, đủ thứ tiếng nói nhưng tôi vẫn giữ giọng Huế rặt của mình. Mỗi lần về thăm quê, tôi rất thích đi chợ Đông Ba, không phải để shopping mà để nghe giọng Huế. Đi vào chợ là tràn ngập những âm thanh quen thuộc; trên đầu, dưới chân, bên phải, bên trái đâu đâu tôi cũng nghe những tiếng nói yêu thương, tiếng nói “ấm trầm mà sâu lắng lạ”.
Cũng vì giọng Huế “rặt” không pha trộn mà tôi hay bị bạn bè chọc là “nói chi mà trọ trẹ rứa” hoặc “Sao nói chi mà nghe đặc sệt mùi mắm ruốc vậy”. Nhiều khi vui nhậu cùng thân hữu, tôi nghêu ngao sửa lời bài hát của Phạm Duy: “Tôi yêu tiếng Huế tôi, từ khi mới ra đời…”
Cũng vì mỗi tỉnh, mỗi miền đều có tiếng nói riêng mà nhiều khi người ta choảng nhau cũng bởi nhại giọng, “chửi cha không bằng pha tiếng” là vậy.
Do sự biến âm hoặc phát âm mà đôi khi tiếng Huế mang lại cho người ngoại tỉnh nhiều nhận xét thú vị.
Phải nói Huế là đất thần kinh, đất của học hành thi cử nên từ xa xưa người Huế đã rất yêu thích đọc thơ, làm thơ, do vậy giọng nói nhiều khi cũng du dương trầm bổng như ngâm thơ vậy. Một người bạn tôi ở trong Nam, nhân một lần ra công tác ở Huế đã chứng kiến và kể lại cuộc đối đáp của một bà già bán quán tạp hóa và một bé gái khoảng chín, mười tuổi:
-Mụ bán cho tui chai nước mắm.
Giọng nói lên bổng xuống trầm (có nhạc điệu) của em bé khiến bà chủ quán phì cười “mắng yêu”:
-Tổ cha mày, rứa cũng làm thơ.
Anh bạn này cho rằng bà già bán quán nói cũng hay như đọc thơ vậy.
Cũng có lẽ vì cái giọng thơ, cái giọng ngọt ngào, trầm ấm đó mà ngày xưa mấy anh học trò xứ Quảng ra thi đã liêu xiêu đôi chân khi gặp người con gái Huế:
Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế, chân đi không rời
Thế nhưng tiếng Huế đôi khi cũng tạo ra cho người xứ khác những hiểu lầm dẫn đến những trận cười vui vẻ.
Chẳng hạn, người Huế khi phát âm những tiếng có dấu hỏi (?) hay dấu sắc (‘) thì người khác tỉnh thường nghe ra là dấu nặng (.).

Xin được kể lại mấy câu chuyện sau đây:
Chuyện thứ nhất:
Có một anh người Huế làm Phường trưởng ở huyện Hòa Vang gì đó thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Một hôm họp liên tịch ở phường, thành viên dự họp hầu hết là người Quảng, người Nam hay Bắc. Như thường lệ, anh Phường trưởng đứng dậy điểm danh. Anh hỏi:
-Bên chị em phụ nữ đủ chưa?
Cả hội trường, mọi người cười cái rần. Anh phường trưởng ngẩn người, không hiểu gì cả nhưng vẫn tiếp tục điểm danh:
-Nông dân đủ chưa?
Bây giờ thì mọi người tham dự òa lên cười ngặt nghẽo. Lần này anh phường trưởng lại càng ngơ ngác nhìn mọi người rồi cũng ngỏn ngoẻn cười theo.
Khi tan họp, anh hỏi nhỏ một bác người Quảng trong hội nông dân:
-Răng hồi nảy tôi điểm danh, mọi người lại cười dữ rứa?
Bác nông dân vỗ lưng anh ta, cười khà khà:
-Eng nói lọa rứa. Đủ chưa thì nói đủ chưa, cứ đ. chưa, đ. chưa, ai mòa không cười.
Chuyện thứ hai:
Một anh thanh niên Saigon vào hớt tóc ở một tiệm hớt tóc thanh nữ. Cô chủ tiệm là người Huế, sau khi mời anh ngồi vào ghế, lấy khăn quàng qua người xong, lên tiếng hỏi khách:
-Anh cắt dài hay cắt ngắn? (Xin lỗi! Hiểu sao thì hiểu. Không dám diễn nôm)!
Anh chàng Saigon nghe vậy thốt nhiên hốt hoảng đứng bật dậy, cuốn gói bỏ đi một mạch, mặc cho cô thợ hớt tóc đứng ngẩn tò te tiếc rẻ nhìn theo.
Chuyện thứ ba:
Một anh người Huế vào Saigon thăm người con đang học đại học. Đang loay hoay tìm đường thì gặp một người cảnh sát giao thông đi tới. Anh mừng rỡ hỏi:
-Đường ni là đường mô ri eng?
Anh cảnh sát sửng người suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu:
-Đường này không phải là đường Mô-ri-en mà là đường Nguyễn Huệ.
Anh người Huế nghe ra, thẩm ý thẩm tình lỏn lẻn cười, tiếp tục đi tìm người chỉ đường khác…
Tôi có một thằng bạn người cùng làng, nhỏ học trường Huyện, lớn lên rủ nhau thi vào Sư Phạm Qui Nhơn. Ông nội hắn vốn là một người thông nho lại còn biết cả chữ quốc ngữ, đặt tên cho người anh là Lễ, hắn là Nhạc. Cũng do tiếng Huế chữ nhờ (Nh) thường kêu bằng âm dờ (D) nên khi đi làm giấy khai sinh đáng lẽ viết Nguyễn Nhạc thì ông Lục sự lại phóng bút ra Nguyễn Dạc (trong tự điễn chữ dạc chỉ là tiếng đệm chứ không có nghĩa gì hết). Vậy là từ đó hắn phải mang cái tên bất như ý suốt đời.

Ra trường vào dạy học ở Phú Yên, người bản địa thường đọc chữ vờ (V) thành chữ dờ (D); nên cứ ngỡ hắn là tên Vạc, mỗi lần tiếp xúc, phụ huynh học sinh sợ gọi tên Dạc e không đúng, có lỗi, bèn một điều thưa thầy Vạc, hai điều thưa thầy Vạc khiến thầy dở khóc dở cười chả biết đường nào mà đính chính!
Tiếng Huế của tôi là vậy đó; khi dịu dàng, khi trầm ấm, khi mượt mà như thơ mà đôi khi cũng tạo cho người nghe khác tỉnh những cảm nhận thích thú và trào lộng, một sự trào lộng rất dễ thương
Ôi tiếng Huế của tôi!



Dalat 27.8.2010
Cuphandalat

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2011

DALAT MỜ SƯƠNG – Một Thời Để Nhớ



Ra trường, chọn được nhiệm sở xứ sương mù DaLat mộng mơ đúng như nguyện vọng, chúng tôi, đứa nào cũng lòng xuân phơi phới, chúc mừng nhau với niềm hân hoan khó tả.
Mộng Vinh, Thành, Diệu Minh, Nguyệt Thu, Toại, Minh và tôi cầm sứ vụ lệnh trình diện cụ Diên từng thời điểm khác nhau nhưng đúng vào sáng thứ hai của tháng 9 năm 1967, đều kịp có mặt để chọn trường tại văn phòng Ty Tiểu học Đà Lạt. Tuy không còn cảm thấy hồi hộp như ngày chọn nhiệm sở một tháng trước đó tại trường Sư phạm Qui Nhơn nhưng trên nét mặt đứa nào cũng hiện rõ nét háo hức chờ đợi.
Với giọng nói khoan thai và rõ ràng, Cụ Diên, Trưởng Ty cho chúng tôi biết nhu cầu phân bố các giáo viên mới về các đơn vị trong thành phố, cụ thể: Trường Đoàn Thị Điễm, một người- Đa Thiện hai người, và Trại Mát là bốn người. Tiếp lời cụ Trưởng ty, cô Nguyễn Thị Tu trình bày thêm về đặc điểm tình hình của từng trường để chúng tôi biết đường mà chọn lựa; còn bác Em thì ngồi bàn bên cạnh, bận rộn viết biên bản cho buổi họp hôm đó. Bác cũng là người trực tiếp làm lương cho chúng tôi, đánh Sự vụ lệnh cho mỗi người sau buổi họp. Dầu nhận trường nào đi nữa đứa nào cũng vui vẻ hân hoan. Lý do chính là Đà Lạt mùa thu sương mờ đẹp quá.
Thành, D. Minh và Toại thuê căn nhà ở gần viện Đại học Đà Lạt. Chị Doan, người bà con của Thu vui vẻ nhường cho hai đứa tôi căn phòng trọ nằm ngay trước mặt trường Bùi Thị Xuân là trường chị đang dạy hồi đó. Ban ngày đi dạy, tối đến thì Toại, Thành, D. Minh thường tạt qua nhà chúng tôi để cùng nhau lội lên đồi Cù cùng nhau ngồi ngắm trăng mờ sau màn sương bạc như thủy ngân. Các nàng khóa tới như NiNa, Tố Lan tuy là dạy ở Bảo lộc nhưng có mặt ở Đà lạt đều đều. Vào mỗi cuối tuần, NiNa từ Bảo Lộc thường lên Đà Lạt để cùng chung vui, hoặc rủ nhau đi bát phố. Cẩm Vân là Roomate của chị Hiếu, tuy không phải giáo sinh sư phạm cũng lên Đà Lạt để enjoy với chúng tôi; chị vốn sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt nên rất yêu mến Đà Lạt cũng như yêu mến trường Bùi Thị Xuân. Có bữa cao hứng, đến nửa khuya năm chúng tôi kéo nhau từ đồi Cù đi vòng bờ hồ, tản bộ ra khu Hòa Bình, tới tiệm Vinh Chan’de mua bánh mì baguette nóng hổi thơm phức, rồi vừa đi, vừa ngắm cảnh, tán gẫu, vừa ăn, lại còn cẩn thận dấu trong túi áo monteau một ổ khác để giữ ấm người.
Tôi nhớ mùa No-el 1968, Nina, Tố lan, Lệ Giao, Kim Liên và tôi đã hưởng một mùa Giáng sinh rất ấm cúng và thú vị tại Đà lạt. Hôm đó, vào khoảng 6 giờ chúng tôi lôi mấy bộ đồ “vía” đẹp nhất ra ủi là cẩn thận rồi tỉa tót, tô điểm mặt mày đâu đó trong tâm trạng háo hức để chuẩn bị đi chơi đêm No-El. Sau buổi lễ, Giao, Nina, Lan, Phát , Thành và tôi ăn Revellion ở nhà Thanh, Toại khuya về nhà, còn Na, Giao, cô em sinh viên của tôi và tôi, nằm chen chúc trên floor của căn nhà trọ 79 góc đường Bùi Thị Xuân và Võ Tánh chật chội nhưng thật vui .
Khoảng tháng tư 1968, tôi theo chân bà thím về thăm Bảo Lộc, có ghé nhà ngủ chung với mấy bạn Nina, Lệ Giao và Hồ Diệu, hình như cũng đâu đó gần chỗ Bảo Lộc. Sau 1968, Giao giã từ Bảo Lộc, Diệu Minh thì theo chồng về Long Khánh, Toại chuyển về Qui Nhơn nhưng Nina, Đào Loan vẫn còn gắn bó với Bảo Lộc. Tiếu Lan thì dính liền với Đà Lạt lâu hơn.Thu dời nhà từ Bùi Thị Xuân vô Thiên Thông học rồi lội qua trường Hùng Vương.
Năm nào cũng như năm nào từ 8 tháng chin đến tháng tư năm sau, Đà Lạt mộng mơ về đêm thường có làn sương lành lạnh khiến chúng tôi thích vòng qua khu Hòa Bình, tìm mấy mấy chị hàng rong mua vài gói đậu phụng rang nhai rào rạo thưởng thức cái vị dòn-béo rất thú vị. Sau khi dạo sương Đà Lạt xong thì ai cũng thích tìm hương vị của Café’ Tùng DaLat. Nếu như vào ban ngày thì chúng tôi ngồi ở Cà phê Thuỷ, vừa uống vừa rung đùi nhìn sương rơi, phả lên mặt hồ Xuân Hương để thả cho lòng mình dào dạt ý thơ. Tôi thích nhất những đồi hoa điểm hồng Đà Lạt. Anh Cao Cu Phúc cho chúng ta bài hát khó quên “Ai lên xứ hoa đào đừng quên đem về một cành hoa”. Tôi vẫn ở đường Bùi Thị Xuân mãi về sau. Xa quê lâu ngày nhưng thâm tâm tôi vẫn nghĩ, Đà Lạt luôn luôn vẫn còn thơ mộng trong tâm khảm của tôi và các bạn giáo sinh mới ra trường như Toại, Vinh, Thanh, D.Minh, Lệ Giao, T. Lan, Na và N. Thu hồi mới ra trường thuở ấy.
Đó là những tháng ngày hoa mộng, vui vẻ và gắn bó tình bè bạn đồng môn Sư pạm Qui Nhơn không thể phai mờ trong tâm cảm. Nhờ họ mà tôi đỡ phải nhớ nhà, nhớ người thân trong buổi đầu xa ngái quê hương.

San Jose. 2011

T4 Nhu Phuong K4

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011

MÓN ĂN QUÊ TÔI



Quảng Điền quê tôi thuộc vùng đầm phá Tam Giang-Thừa Thiên Huế tuy nghèo nhưng nơi đây lại có nhiều món ngon nổi tiếng.
Mùa tháng 4, tháng 5 âm lịch trên phá Tam Giang có nhiều loại cá ngon như cá chình, cá ong, cá nâu, cá kình.....Đây là loại cá cao cấp mà nấu kiểu gì cũng ngon: kho, hấp, nấu canh với măng chua....Thực khách đến phá Tam Giang ngồi ở những nhà hàng mộc mạc ven bờ, sau một chầu nhậu tôm, cua hay mực, mỗi người làm một tô cháo cá ong bốc khói thì thật sảng khoái không gì bằng.
Mùa hè là mùa của cá thệ. Cá thệ nấu canh với thơm ăn thì quá đả. Cá này kho rim với nước mắm, mỡ, đường cho quéo lại, ăn với cơm hay cháo gạo đỏ thì thật tuyệt cú mèo.
Tháng bảy nước nhảy lên bờ là mùa cá ngạnh đẻ; ra chợ mua độ mười ngàn là có một bữa ăn ngon. Cá ngạnh con nào con nấy bụng đầy trứng, nấu canh măng chua thì có mà hết cơm. Loại cá này chỉ nấu canh hay kho rim là ngon.
Hiện nay ở thị trấn Sịa có nhiều quán ăn ngon như quán mụ A bán cháo xương giò; quán cháo bò gần ủy ban xã cũng rất đông khách, giá cả lại bình dân, chỉ cần mười ngàn là có một tô nóng sốt.
Cũng như đa phần người Thừa Thiên Huế, dân quê tôi cũng rất thích món cháo bánh canh. Bánh canh ở đây làm bằng bột gạo, không cắt thành sợi như trong Nam mà xẻo bột thành từng miếng nhỏ, mỏng, nấu với cá lóc hay tôm tươi bóc vỏ, húp vào thì cứ xuýt xoa mãi. Món bánh canh Huế nói chung ngon đến nỗi nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị đã hết lời ca ngợi:
Mời chị mời anh chén bánh canh Nam Phổ
Xơi vô bổ khỏe, có chất bổ, có mùi hương
Lại thêm mát mẻ can trường
Sâm Cao ly cũng sút, rượu Quỳnh Tương cũng không bì

(Làng Nam Phổ thuộc ngoại vi thành phố Huế )
Dọc hai bên sông Bồ thuộc phạm vi xã Quảng Thọ, dân quê tôi thường trồng một loại cây lương thực rất đa năng mà thân và củ đều ăn được, đó là cây chột nưa.
Cây nưa thuộc họ môn, lá khuyết như lá đu đủ, không những ăn củ ngon như củ khoai, củ sắn mà thân của nó còn dùng chế biến rất nhiều món ngon. Nưa ưa đất ẩm nên nông dân thường trồng cuối mùa hạ và thu hoạch vào mùa đông là mùa mưa lụt, dưới sông có rất nhiều loại cá nhỏ như cá mương, cá mại, cá sơn…. Người ta tước vỏ thân nưa, xắt thành từng miếng cỡ lóng tay rồi kho với các loại cá nói trên trong nồi đất, thêm nước mắm, tiêu, hành, mỡ, ớt bột… để lửa riu riu cho thấm. Mùa đông giá rét mà ăn cơm nóng với cá kho chột nưa thì không có cao lương mỹ vị nào bì được! Ngoài ra chột nưa còn được dùng nấu canh với tôm bóc vỏ hay cá tràu (cá lóc loại nhỏ) hoặc làm dưa như dưa môn, dưa cải để dành ăn dần.
Tại ven sông Bồ có làng Phú Lễ chuyên về nghề mua bán heo; họ có bí quyết luộc thịt rất ngon đến nỗi các vua chúa nhà Nguyễn thường tuyển dân làng vào Cung phục vụ. Món bánh ướt cuốn thịt luộc chấm nước mắm ruốc dầm ớt xanh của làng này nổi tiếng vô cùng đến nỗi có câu ca:
Gió đưa trái ớt đèo queo
Lấy vợ Phú Lễ thịt heo láng mồm

Gái Phú Lễ được tiếng là xinh đẹp, tóc dài da trắng. Lấy được vợ đẹp mà còn được ăn ngon nữa hỏi đấng nam nhi nào mà chẳng thích.
Món ngon quê tôi còn nhiều lắm, nhiều lắm.... Bây giờ mỗi lần về thăm quê, niềm vui của tôi không phải là đi thăm thú đền đài cung điện hay xuôi giòng Hương Giang nghe ca Huế mà là tìm kiếm thưởng thức những món ngon quê mùa dân dã, những món ăn đã từng nuôi tôi lớn lên, trưởng thành cho đến ngày xa quê.
Thương lắm quê nghèo tôi ơi!!

Dalat 25.01.09
Phan Cư-Lớp Nhị Bảy K5