Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

THÁNG NGÀY QUA

Tản mạn – Nguyên Tịnh K3

Ai đó đã nói: “Bao nhiêu nắng để làm khô một dòng sông, bao nhiêu mưa để cuốn trôi một sa mạc và bao nhiêu đêm để giết chết một nỗi nhớ”… Càng về già hắn càng ưa nhớ về những ngày tháng cũ để rồi ngậm ngùi tiếc nuối, có lúc ân hận xót xa vì đã không sống trọn vẹn hết mình vào lúc đó. Trong cuộc đời hắn đã sống như một chiếc bách giữa dòng lênh đênh không biết trôi giạt về đâu, tất cả để định mệnh đưa đẩy.
Năm đó, khoảng 1963-1964 hắn đang học dở dang năm dự bị của đại học Văn khoa Huế thì thấy chán nản vì không theo kịp. Ai đời đổ tú tài toán mà không vào Khoa học lại đi Văn khoa. Thời đó có được mảnh bằng tú tài 2 là oai lắm. Đối với hắn, vì thiếu sự dẫn dắt của gia đình, hắn cảm thấy bơ vơ trước ngả ba đời. Muốn tiến thân trên con đường hoạn lộ thì phải học lấy cử nhân của một trong ba ngành: Khoa học, Văn khoa hoặc Luật. Cầm mảnh bằng trong tay hắn không biết đường nào để đi. Thi vào các trường Quốc gia Hành chánh hoặc Phú Thọ thì quá khó và hắn đã rớt lia chia rồi, không dám thi lại nữa. Vào quân đội thì hắn thấy xa lạ và uổng phí cho cái bằng tú tài 2 của mình vì nếu muốn đi lính thì với bằng “diplome” đổ từ 1959 hắn đã có thể nhảy vào Sĩ quan Thủ Đức từ lâu rồi. Vào Sĩ quan Đà Lạt thì sợ không đủ thước tất vì hắn cao không quá 1 mét 55. Khi ghi danh học Văn khoa hắn còn nhớ rành rọt trong buổi họp mặt lớp dự bị đầu niên khóa 1963-1964. Giáo sư khoa trưởng hướng dẫn sinh viên các đại cương về ban ngành của khoa đồng thời nói rỏ về chương trình của lớp dự bị, sau đó là buổi hỏi đáp dành cho SV, hắn dơ tay hỏi khoa trưởng: “Thưa thầy trong quá trình VK có ai học ban B mà lại ghi danh học VK và đổ dự bị năm đầu được không”? Ông trả lời một câu xanh dờn: “Tôi chưa bao giờ thấy”!! Thật là một cú đấm vào mặt làm hắn xâm xoàng và tê liệt hết một nửa ý chí. Thế mà chưa thấm tháp gì, khi vào lớp dự bị học giờ “culturel Francaise” của một giáo sư Pháp tên là Beaulie hay gì đó mà lâu quá hắn không nhớ nỗi. Ông ta bước vào lớp xong, là ngồi xuống ôm micro nói như sanh như sứa hắn ghi không kịp bởi không hiểu gì cả. Đến giờ Grammaire, lại cũng một giáo sư người Pháp nữa, trẻ ,đẹp trai trông không khác gì tài tử Alain Delon, ông giảng uOI ou Non, kéo dài cả 3 tháng trời, hắn không hiểu nội dung bài học của ông là gì. Rồi đến giờ Văn chương VN do một giáo sư VN tên Lê Tuyên giảng dạy, ông có dáng dấp của một nghệ sĩ thứ thiệt, lại cũng như hai ông trên, vào lớp là ôm micro và nói thao thao bất tuyệt. Ngang đây hắn thấy mình thật sự thấm thuốc và đã… lạc đường vào lịch sử.
Nửa năm sau đó hắn bỏ học, thi vào trường Sư Phạm Qui Nhơn, trúng tuyển, hắn lên đường đi làm sự nghiệp. Giã từ trường đại học VK với nỗi niềm ngậm ngùi cho thân phận mình. Thời đó không biết làm sao mà triết lý của Jean Paul Satre ăn sâu vào đám sinh viên như hắn thật đậm, nhìn đâu cững thấy phi lý, nôn mữa. Có lẽ cũng đúng trong bối cảnh lịch sử lúc đó: Chế độ ông Diệm đổ, Mỹ đổ quân, chiến sự trở nên ác liệt, bạn bè có đứa chết trận có đứa thương tật. Mọi giá trị xã hội bị đảo lộn khi lính Mỹ hiện diện. Trong cơn lốc xoáy đó hắn quay về triết lý hiện sinh của Satre, của Albert Camus. Khi vào Sư Phạm Qui Nhơn hắn phát giác thêm một điều là hắn đã lầm đường trong viêc chọn sự nghiệp. Hắn nghĩ với sức học của hắn, tầm vóc kiến thức của hắn, hắn phải là một giáo sư trung học. Ai đời ở đây chỉ dạy để làm giáo viên tiểu học. Đầu óc nổi loạn của hắn sẵn dịp vùng dậy, hắn không còn thích thú gì các giờ dạy của trường Sư Phạm nữa, hắn tìm mọi cách để vắng lớp. May quá hồi đó Tôn Thất Lập học cùng lớp là trưởng ban văn nghệ khóa 3 Sư Phạm Qui Nhơn, hắn ghi danh vào ban Văn nghệ của bạn. Cứ mỗi lần điểm danh là lớp trưởng bảo đi tập văn nghệ, mà văn nghệ cái khỉ khô gì, hắn chỉ hát bè cho một bài hợp ca nào đó của Phạm đình Chương. Cho đến bây giờ hắn còn nhớ mấy câu “Ô… ô… ô… ồ… ô… ồ… ộ… ộ”… thế là lọt sổ được vài tháng khỏi học.
Trong những giờ học ở SP hắn thích nhất là môn Pháp văn. Hắn nhớ đăng ký lên lớp thuyết trình cuốn “Bonjour Tritesse” của Francois Sagan. Hắn không nhớ đã soạn những gì và nói những gì nhưng thời đó, đọc cuốn này hắn cũng hiểu được ba phần tư vì Sagan cũng là một môn đệ của trường phái Existencialism và hắn thì rất khoái thuyết hiện sinh chủ nghĩa nầy. Thật là điếc không sợ súngmúa rìu qua mắt thợ. Có lẽ khi thuyết trình hắn nắm chặt cái chân lý là tụi bạn cùng lớp là những củ khoai với lại tụi đó đã học Văn khoa như hắn đâu! Khổ nỗi là kỳ thi lục cá nguyệt năm đó điểm Pháp văn của hắn không được đứng nhất như hắn tưởng mà là thứ mấy mươi. Thật bỉ mặt với bạn bè!
Cái ngông vẫn còn đeo riết theo hắn. Tết năm đó khoảng 1965, bạn bè cùng lớp lục tục giã từ Qui Nhơn về quê ăn tết thì hắn cùng một thằng bạn tên Hồ Đăng Kế rủ nhau lên Đà Lạt ăn tết. Tội nghiệp, với số tiền gia đình ở Huế gởi vào cho để hắn mua vé xe tàu về quê cộng với tiền học bổng và vay mượn bạn bè thêm một ít hắn mới tạm thấy ấm túi để làm một chuyến phiêu bồng lãng du. Hai đứa ghé Nha Trang trước, hắn không nhớ đã đi bằng phương tiện nào, chỉ nhớ ở lại nhà thằng bạn cùng lớp vài ngày sau đó mua vé xe đò đi Đà Lạt.
Đà Lạt là niềm mơ ước không cùng của hắn. Hắn nhớ những cảnh lãng đãng sương mờ của Đà Lạt qua tác phẩm “Vòng tay học trò” của Nguyễn thị Hoàng. Mối tình thơ mộng của gã học trò với cô giáo. Thời đó hắn cũng mang một mối tình thắm thiết, mối tình đó mà đắm mình trong khung cảnh Đà Lạt thì thật là thơ mộng cùng mình. Đặt chân lên Đà Lạt lần đầu hắn tưởng mình như đang ở một khung trời nào khác: mưa lay bay, trời mờ sương, hoa anh đào nở đỏ rực cả một khung trời, nhìn đâu đâu cũng thấy hoa, hoa trong sân vườn nhà ai, hoa dọc hai bên đường lên dốc và nhất là hoa trong chợ Tết, ngàn hoa khoe sắc trong không khí lành lạnh của trời xuân đẹp không thể tả nổi. Còn con gái Đà lạt thì cô nào má cũng ửng hồng và ăn mặc như Tây. Hắn nhớ những khung cảnh của vùng quê ở Pháp mà hắn từng xem đâu đó trong phim… Hắn thầm hát bài “Ai lên xứ hoa Đào” và “Những bước chân âm thầm” để thẩm thấu nét lãng mạng của khung cảnh. Ngày hí hững tươi vui trên vùng đất mới mở ra trước mắt hắn đầy hứa hẹn hoan ca. Hắn nhớ cùng bạn vất xách ở chung cư dành cho sinh viên scien-po đi dạo phố ngắm cảnh Đà Lạt. Niềm vui chưa trọn vẹn thì tối đó một sự cố xảy ra, sau khi tắm rửa rủ sạch bụi đường xa, rờ vào túi hắn ngả ngữa là cả đống tiền đem theo bay mất, chỉ còn vài chục đồng mà kẻ vô hậu cố tình để lại. Hắn biết chắc mẩm là tụi sinh viên còn ở lại của cư xá cuỗm của hắn chứ không ai khác. Phòng trọ mấy chục mạng nay chỉ còn vài mống, nhìn quanh chẳng còn thấy mống nào, mình là kẻ ở nhờ biết ai đây mà soát xét. Sau khi hỏi thằng bạn đi cùng xem có còn tiền để ở lại Đà Lạt không thì được biết nó không có gì cả, tất cả chỉ trông cậy vào hắn. Thế là hai đứa bàn với nhau là phải giã từ Đà lạt sớm vì không có ai ở đây để nhờ vã vay mượn. Dốc hết túi tiền còn lại của hai đứa chỉ đủ mua được hai vé xe đò về Nha Trang. Phải về Nha Trang cái đã vì ở đó có bạn bè cùng lớp, dầu gì cũng ăn được bữa cơm miển phí. Trên đường đi, quá đói vì trời lạnh vì chẳng ăn gì từ lúc xe khởi hành, hai đứa lén ra sau vườn hái trộm một trái đu đủ còn xanh gọt vỏ ăn lót dạ. Về Nha Trang thì trời đã tối, hai đứa tan hàng, mỗi đứa lo kiếm một cách để tồn tại mà về lại Qui Nhơn. Hắn không nhớ khi đó mồng mấy Tết, chỉ nhớ mang máng ghé nhà thằng này thằng nọ để tá túc hoặc mượn tiền nhưng hình như không được bao nhiêu. Hắn chợt nảy một ý kiến: hay ghé lại nhà một người bà con, cùng quê, cùng dòng họ. Hắn đứng lớ ngớ trước một villa to tướng bấm chuông, vào nhà hắn thấy nhục nhã quá nên không mở miệng mượn tiền mà chỉ bảo là ghé thăm hai bác cùng anh chị xong kiếu từ ra về. Hắn không nhớ thằng bạn cù rủ hắn đi phiêu lưu giờ đó ở đâu. Sau này nghe nó nói lại là mượn được tiền và mua vé máy bay về lại Qui Nhơn sau khi đọng lại Nha Trang 3,4 ngày. Còn hắn tứ cố vô thân, cuối cùng nhờ bạn bè chỉ dẫn, nghe đâu có tàu của hải quân VN chở Giáo sinh ở NT về QN vì đường bộ bị đắp mô gài mìn không đi được. Hắn theo bạn lên tàu, khổ một nỗi là không đi cùng tụi nó để có cái ăn hoặc lân la với thủy thủ để xin ngủ dưới hầm tàu, hắn chui một góc trên boong nằm nhìn trời đất mênh mông. Khi tàu ra khơi phần vì lạnh phần đói hắn như một con mèo ướt nằm bẹp dí một góc trên boong không ai ngó ngàng tới, hắn ói, mữa ra mật xanh mật vàng lăn lộn theo từng con sóng không biết mấy ngày mới tới QN, rồi hắn cũng không biết làm sao mà lên được bờ để về phòng trọ chỉ biết sau đó hắn ốm một trận thập tử nhất sinh cả tháng trời mới đi học lại được. Viết đến đây hắn mới thấy trách thằng bạn cùng lớp sao nỡ vô tình hỡi ai đã xúi dại hắn làm một chuyến phiêu lưu đau khổ như vậy, Xuân đâu không thấy chỉ thấy một cái Tết đói rách tả tơi, thân tàn ma dại. Một điều lạ là gặp nhau sau này gã vẫn tỉnh bơ không một chút gì thương xót cho thằng bạn khốn khổ năm nào. Đầu năm đó sau cái Tết cay đắng hắn mới viết thư về nhà nói láo là bịnh quá không về quê ăn Tết cùng gia đình được. Bố mẹ hắn vội vã gởi thêm tiền vào cho để chữa bệnh. Thật tội lỗi hết chỗ nói. Cái phiêu bồng của hắn phát sinh từ óc nổi loạn cùng phản kháng của tuổi trẻ. Hắn nuốn chứng minh cho gia đình thấy hắn đã trưởng thành, không còn theo khuôn phép gia đình nữa. Cũng có thể do sách vở làm hắn mộng mơ phiêu lãng để rồi chẳng đi đến đâu.
Hai năm ở Sư Phạm Qui Nhơn là hai năm chơi nhiều hơn học. Hắn nhớ cùng bạn bè tổ chức những buổi đi chơi xa hoặc đi picnic, khi thì Ghềnh Ráng, khi thì thăm mộ Hàn Mặc Tử hoặc thăm trại cùi Phương Quý hoặc Suối Đá. Nhưng kỷ niệm đáng nhớ nhất vẫn là những lần bãi lớp đạp xe trối chết về tiệm cơm tháng để giành chỗ ngồi trước. Lý do là ăn trước thì thức ăn nóng và ngon hơn, thứ nữa là về trễ phải ngồi đợi lâu quá đói bụng… Rồi những bữa nhậu trời long đất lở. Hắn nhớ có một lần nhậu say thằng bạn tên Chín chui dưới gầm giường để núp. Hắn hỏi nó tại sao, nó bảo nó là chuột, hắn la lên mầy không phải là chuột và kéo ra khỏi gầm giường, hai đứa giành giật nhau cả buổi, tội nghiệp sáng ra tay chân nó bầm dập đủ nơi…
Giấc mơ Đà Lạt vẫn còn ám ảnh chưa rời thì một bất hạnh xảy ra với hắn: Số là hắn đinh ninh đổi đi dạy ở Đà Lạt thì thằng bạn thân mà hắn ủy nhiệm lại chọn Quảng Trị. Giấc mơ Đà Lạt không thành đã giết chết nửa cuộc đời mơ mộng mà hắn luôn lãng đãng mang theo. Hắn trình diện ty Quảng Trị với một nỗi lòng héo hắt. Lúc đó chiến sự đã có mòi khốc liệt, đường xe đò Huế - Quảng Trị bị đặt mìn liên tục. Có lúc ngồi trên xe đò mà hồn phách thất lạc tận đâu đâu vì hai bên đường một vài chiếc xe cháy đen bẹp dúm cùng một vài xác chết của hành khách nằm vương vãi hai bên trông rợn người.
Ra đến Ty nhận sứ vụ lệnh hiệu trưởng thì ngay ngày hôm sau một thằng bạn khóa trước chực sẵn để bàn giao công vụ cùng khuôn dấu hiệu trưởng. Ngày đến trường hắn càng nản hơn, từ Cam Lộ đạp xe dọc theo quốc lộ 9 gần 10 cây số xong rẽ vào một làng quê thêm cây số nữa mới đến trường. Trường là một dãy nhà tôn năm phòng, giáo viên toàn là nam và là dân địa phương. Nhìn học trò hắn càng ngán ngẩm hơn, không khác gì hình ảnh mà Cao Bá Quát đã tả: Nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi. Áo quần xốc xếch tả tơi, mặt mày lem luốc hốc hác, tóc tai bù xù trông giống đám trẻ bụi đời. Có lần hắn hỏi một học sinh sao không thuộc bài, hắn nghe một câu trả lời lạ hoắc: “Dạ thưa thầy hôm qua em đi mót lúa với mạ em”! Trời đất, mấy giây sau hắn mới hiểu mót lúa là gì (lượm lúa rơi còn sót lại sau khi gặt). Chừ nghĩ lại hắn thấy mình quá đỗi vô tâm. Tại sao không đem lòng thương để san sẻ mà lại nản chí. Sau vài ngày hắn giao khuôn dấu cho giáo viên già nhất trường về lại Huế rong chơi. Có nhiều lần hắn muốn bỏ nghề nhưng lại không biết làm gì vào lúc đó. Gia cảnh nhà hắn lúc đó lại khó khăn, rất cần đồng lương hàng tháng của hắn để tài trợ cho đứa em đang học ngành Y tại Sài Gòn. Cơ cực nhất là những ngày mưa phùn gió bấc đạp xe từ Cam Lộ đến trường đã xa, cái cảnh mà hắn nhớ đời là bùn quánh vào bánh xe không đạp được phải dùng một cái que để xoi xỉa cho nó rớt xuống, đi một đoạn lại phải dừng lại xoi xỉa, có ngày 10 giờ sáng hắn mới tới trường. Rồi những ngày mùa hè cũng khốc kiệt không kém. Gió Lào thổi liên miên bất tận suốt ngày đêm, rờ đâu cũng nóng, từ chiếc giường nằm cho đến ghế ngồi, cát bụi mù mịt khắp nơi, cát bay cả vào thức ăn. Có ngày chỉ uống nước cho đến sình ruột cóc mới thôi. Đối với hắn, nơi đây không khác chi cảnh lưu đày. Càng chối bỏ hiện tại hắn càng mơ khung trời Đà Lạt đã đi năm nào, hắn sống trong một tình trạng vong thân y như triết của Satre và Camus đã phổ vào đầu óc hắn. Hắn thấy đời toàn phi lý và nôn mữa. Mấy tháng hè cuối năm đó hắn nhận được giấy trình diện của bộ Quốc phòng nhập ngũ khóa 26 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Thôi giã từ lưu đày và quê nhà, hắn thề với lòng mình là không bao giờ quay trở lại vùng đất quê nghèo cày lên sỏi đá này nữa. Sau 9 tháng ở quân trường Thủ Đức, giấc mơ Đà Lạt vẫn còn ám ảnh nhưng than ôi định mệnh lại một lần nữa trêu chọc hắn: Tiểu khu Tuyên Đức Đà Lạt đã hết chỗ. Hắn muốn xin đi tiểu khu này nhưng các bạn đồng khóa d0063 trước đã chọn hết rồi. Gần đến phiên mình hắn hỏi một tân binh sĩ quan ngồi cạnh có tiểu khu nào có khung cảnh giống Đà Lạt không, tên đó cho biết là tiểu khu Kontum có khí hậu y chang Đà Lạt. Vì một niềm ước mơ năm nào không thành đã đưa đẩy hắn vào một ngả rẽ mới. Ngả rẽ lớn nhất đó đã định đoạt nửa cuộc đời còn lại của hắn: gặp vợ ở Cao nguyên mặc dầu khi đó đã có người yêu ở Huế và Sài Gòn…
Hắn nhớ lại lời nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma:
Hãy suy tư cẩn thận vì tư tưởng sẽ biến thành lời nói.
Hãy ăn nói cẩn thận vì lời nói sẽ biến thành hành động.
Hãy cư xử cẩn thận vì hành động sẽ biến thành thói quen.
Hãy chú trọng thói quen vì chúng sẽ biến thành nhân cách.
Hãy chú trọng nhân cách vì chúng sẽ biến thành số mệnh,
Và số mệnh của anh sẽ là cuộc đời của anh.
Điểm lại đời mình hắn thấy đúng là hắn đã đùa với số phận. Chính hắn lãng đãng quá nên cuộc đời của hắn cũng lãng đãng theo, hay nói theo Nguyễn Du là tự mình tìm lấy đoạn trường mà đi, nhưng dầu gì thì những ngày tháng đó cũng đeo cứng vào ký ức làm hắn không thể nào quên nhất là những đêm mưa gió sụt sùi của mùa đông xứ lạnh này. Thật đúng như tâm sự nhà thơ Thiều Anh:
Hẹn đến mùa sau sẽ về thăm
Thăm từng cái lạnh dấu trong chăn
Nghe mưa rả rich trong đêm vắng
Để nhớ vô cùng những tháng năm

Nguyên Tịnh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét