Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN MẠN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN MẠN. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

NGÀY HỘI ĐỒNG MÔN

Những Lời Tâm Cảm - Phạm Châu



Mặc dù bận bịu với công việc nhưng tôi cũng cố gắng sắp xếp thời gian đi dự cuộc họp mặt Cựu Giáo sinh SPQN để không phải là "Trái tim bên lề". Và dù sao SPQN cũng là "ruột thịt", cũng là nơi "chôn nhau cắt rốn" với bao nhiêu kỷ niệm êm đềm của một thời tuổi trẻ...
Tuy không có bạn cũ trong dịp nầy nhưng tôi vẫn cảm thấy vui và cảm động khi nhìn lại những hình ảnh sinh hoạt hôm nay. Tôi cứ tưởng cái "HALL" dùng làm ngày Tất Niên hôm nay là Hội Trường SPQN với những đêm Văn Nghệ năm nào. Ca sĩ SPQN tuy không còn "áo trắng sân trường" nhưng hát còn khỏe lắm không kém gì ca sĩ Pro của các Trung Tâm. Anh Nguyên Đạt, guitarist, hao hao giống Trịnh Công Sơn. Đặc biệt là là ban hợp ca với những tà áo dài truyền thống VN đầy màu sắc tươi trẻ đã làm "sáng" sân khấu. Áo dài VN lợi hại thật, nó đã "enhance" cái nét duyên dáng của người phụ nữ VN bất kỳ lứa tuổi nào. Hãy tưởng tượng quí Chị mặc quần Jean lên sân khấu thì sẽ như thế nào, chắc chắn không thể nào đẹp như những tà áo dài màu hồng hôm nay.




Nhìn lại hình ảnh chúng ta xếp hàng đi lấy thức ăn cũng làm tôi nhớ cảnh Nhà Ăn Trường SPNQ (Hội Trường) năm nào. Nay còn đâu!?!
Hôm nay tôi cũng vui là gặp lại Thầy Ba, sự hiện diện của Thầy Ba cũng gợi lại hình ảnh các Thầy khác không có mặt hôm nay: Thầy Hiệu trưởng Trần Văn Mẫn, Thầy Nở, Thầy Hy, Thầy Đoàn Nhật Tấn... Giờ nầy Thầy ở đâu? Sài Gòn, Qui Nhơn, Mỹ, Úc, Pháp hay Miền Đông Hoa Kỳ? Chúng em vẫn nhớ quí Thầy.
Dịp kỷ niệm 50 năm SPQN vào tháng 6/2012 sắp tới sẽ là ngày đầy ý nghĩa của tất cả chúng ta, và tôi cũng hy vọng đây sẽ là cơ hội để chúng ta gặp lại được nhiều Thầy Cô và bạn bè cũ, đặc biệt là Thầy Hiêụ trưởng Trần Văn Mẫn. Nhân đây cũng xin kể câu chuyện "Tìm lại Thầy cũ". Năm 1966, sau khi đỗ vào Đệ Thất trường Trung học Trần Quốc Tuấn QN, tôi học Anh Văn với một thầy giáo người Mỹ tên là David Juracek. Thầy David là một sinh viên Thiện Chí dạy Anh Văn cho trường TQT. Trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, tôi nghĩ rằng Thầy David sẽ chỉ là hình ảnh của kỷ niệm, và sẽ không bao giờ có thể tìm lại được người Thầy Mỹ trên cõi đời nầy nữa. Nhưng may mắn Trời quả không phụ lòng người. Tôi đã search trên Internet 3 năm trời. Một ngày đẹp trời, chính người Chú ruột, cũng là giáo sư Anh Văn dạy cùng trường với Thầy David đã mách nước bằng cách cho những số phone làm "reference number" để hỏi thăm tin tức. Và cuối cùng tôi đã tìm ra "tung tích" của Thầy tận Minesota. Trời ơi! Giấc mơ của tôi đã thành sự thật. Nhân ngày Họp Mặt LIÊN TRƯỜNG, tôi đã mua một package gồm vé bay và khách sạn và mời Thầy về San Jose tham dự ngày Họp Mặt LT. Sự hiện diện "bằng xương bằng thịt" của Thầy David trong đêm Hội Ngộ đã làm Thầy Cô và học trò cũ sững sốt ngạc nhiên, lòng thấy rưng rưng...
Sau đó biết bao Thầy Cô và học trò cũ đã liên lạc thăm hỏi Thầy như người thân yêu sau bao năm xa cách. Còn Thầy Mẫn thì sao? Sau chừng ấy năm, Thầy còn nhớ chúng Em không?!?
Cảm ơn BTC cũng như quí Anh Chị đã cho tôi cơ hội may mắn được trở lại những ngày tháng cũ của SPQN với bao nhiêu kỷ niệm chưa quên... Chúc tất cả quí Anh Chị một cuối tuần bình yên vui vẻ bên gia đình và người thân yêu


Tháng 12/ 2011
Châu Phạm

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

SƯ PHẠM QUINHƠN - NGÔI TRƯỜNG THỜI TUỔI NHỚ

Nguyên Đạt K5

Cuộc sống với bao mối bận tâm của vòng đời cơm áo kéo ta mãi trôi theo dòng chảy đến nỗi gần như lãng quên đi mọi thứ, thế rồi bất chợt một trưa hè nào đó trên đường về nhà, nghe tiếng ve râm rang trên hàng phượng vỹ, dòng ký ức bỗng dưng được khơi gợi, và những kỷ niệm của một thời hoa gấm mộng mơ đổ về làm xao xuyến tâm tư. Đã có một lần như thế với tôi vào dịp cuối năm khi lục tủ để thanh lý những vật dụng không cần thiết, và phát hiện ra chiếc huy hiệu cùng với tấm thẻ giáo sinh trường sư phạm Quy Nhơn để rồi cái góc trời riêng hơn bốn chục năm qua hiện rõ mồn một trong trí nhớ.
Tôi vốn xuất thân từ một gia đình có truyền thống dạy học, ông nội là một trong những cụ đồ nho ít oi còn sót lại, ba tôi cũng là một ông giáo trường làng; ngoài việc rất được bà con quí trọng, thương yêu, nể phục về sự tận tuỵ với nghề, ông còn nổi tiếng là một người đặc biệt, bởi sinh thời thường mỗi khi tới trường, ông chỉ mặc độc chiếc áo dài đen, đi guốc mộc trong khi trang phục của các đồng nghiệp đã là đồ Âu, đi giày đế cứng. Trong một lần máy bay Pháp thả bom nhầm xuống vùng tạm chiếm, ông đã bị thương tật khi cố lao vào đám cháy để cứu mấy cậu học trò còn mắc kẹt trong phòng học. Câu chuyện bi tráng đó đã để lại một ấn tượng rất thiêng liêng trong cõi nhớ; thế nên sau khi đậu tú tài, khác với những người bạn đồng lứa, tôi chọn nghề dạy học như là một sự đương nhiên tiếp nối hoài bão của cha ông mình.
Nghề dạy học bất cứ thời nào cũng vậy, vốn không phải là nghề béo bở nhưng để được làm thầy nào phải chuyện giản đơn. Tôi nhớ hồi đó suốt cả dãy đất miền Trung từ Quảng Trị tới Bình Thuận chỉ mới có Sư phạm Quy Nhơn (Sư phạm Huế mấy năm sau mới mở) là trường duy nhất đào tạo giáo viên bậc Tiểu học với số lượng tuyển sinh hạn chế nên rất khó đổ. Nhiều anh vượt qua kỳ thi viết với số điểm rất cao, thi vấn đáp cũng trả lời gọn gàng đâu đó, lên bảng viết: “Miệng nói lời hay-tay làm việc tốt” nắn nót rất đẹp, vậy mà cuối cùng bảng vàng chẳng thấy đề tên! Hỏi các bậc đàn anh mới biết, hoặc là khi viết xong do quên lau bảng, hoặc lau bảng không đúng cách làm bụi phấn mù bay dính đầy râu tóc và… nhiều thứ linh tinh khác như ngoại hình, cách ăn mặc, đi đứng (nói chung là TƯ CÁCH)… mình cho là chuyện nhỏ không để ý nhưng khi tuyển chọn một người để đào tạo thành một ông “thầy” thì các vị giám khảo lại rất quan tâm.
Cầm mấy thứ “đồ cổ” trên tay, tôi săm soi ngắm nghía mà trong dạ cảm thấy bùi ngùi như đang gặp lại người bạn thiết thân của một thời xưa cũ. Chiếc huy hiệu thì phía mặt sau gần như bị rỉ sét gần hết, may mắn mặt trước vẫn còn y nguyên, tấm thẻ giáo sinh thì xỉn màu vàng ố, bốn góc te tua vì dán nhậm, cái bảng tên thì sứt sẹo, tróc hết nước sơn. Vậy mà nếu không nhờ có “bọn chúng” làm tấm bùa hộ mệnh để mỗi khi ra đường gặp mấy anh quân cảnh thì ắt đã bị xét hỏi lôi thôi.
Bạn à. Đúng nghèo vốn không phải là cái tội nhưng cũng vì thiếu tiền không kịp đóng học phí đúng kỳ hạn nên nhà trường không làm hồ sơ cấp giấy hợp lệ quân dịch, để rồi suýt nữa tôi phải từ bỏ ước mơ của mình,
… Hai năm ở trường Sư phạm chỉ là một thời gian quá ngắn so với cả một đời người, nhưng cũng đủ dài để luyện rèn cho tôi, từ một cậu học sinh ngu ngơ rụt rè lần đầu tiên sướt mướt rời vú mẹ lên đường học nghiệp, và khi bước ra đời thì đã trở thành một người chững chạc tự tin, có một lý tưởng để đi theo, một hoài bão để vươn tới.
Trong các thầy cô, người gây ấn tượng nhất đối với tôi là thầy Đoàn Nhật Tấn. Thú thật, tôi vốn học hành hơi a-ma-tưa nhưng giờ lý thuyết sư phạm của thấy thì chưa khi nào vắng mặt. Mỗi khi vào lớp là thầy thao thao bất tuyệt, không thèm nhìn ngắm học trò, vậy mà đứa nào cũng há mỏ chăm chú lắng nghe không bỏ sót chữ nào. Năm 2002 có dịp dự đại hội cựu giáo sinh SPQN ở khu du lịch Thanh Đa (cơ ngơi của anh Hòa khóa 11) rồi lần sau ở quán Trầu Cau (cũng của vợ chồng anh chị cựu giáo sinh) tôi có gặp được thấy Bồn (vẫn năng động, hoạt bát như ngày nào) thầy Hoàng Song Nhi và một số thầy cô dạy khóa sau chưa biết tên, đáng tiếc không có thầy Tấn. Còn thầy Mẫn, Hiệu trưởng nghe đâu sau năm 75 sống ẩn cư ít giao tiếp với bên ngoài.
Ở Sài Gòn hằng năm, Hội cựu giáo sinh SPQN thường tổ chức họp mặt vào ngày chủ nhật đầu tiên của tháng 7 dương lịch để anh em đồng môn khi đưa con thi đại học ở Sài Gòn có dịp ghé tham dự. Còn Huế thì chọn ngày 01/8 để họp mặt. Riêng Phú Yên thì lâu lâu mới tổ chức gặp gỡ một lần. Năm 2006 chúng tôi tổ chức một cuộc hành hương về trương cũ, khi đứng trước cổng trường, cảm thấy hụt hẫng vì sự đổi thay, biến thiên của cuộc đời, tự nhiên ai cũng muốn khóc. Nhìn chung, tổng thể không thay đổi gì mấy nhưng những công trình vá víu, lại thêm các hạng mục đang dở dang khiến cho anh em cảm thấy xa lạ buồn tủi, phải kéo nhau về trường mẫu giáo của anh Bảo gặp gỡ mấy thầy cũ và bạn đồng môn ở Qui Nhơn sinh hoạt tới khuya để khỏi bỏ công lặn lội.
Khu nội trú của trường Sư phạm hồi ấy chỉ dành cho nữ nên những giáo sinh nam chúng tôi phần đông phải tìm nhà trọ ở khu 6 hoặc khu 2 ăn-ở rẻ nhưng bẩn chật, giường chiếu mùng mền đều thiếu. Con đường tới trường vào mùa hè bốc đầy bụi đỏ, về mùa đông thì loang loáng những vũng nước mưa, nhiều bữa xui xẻo gặp mấy đứa trẻ rắn mắt lấy cục đá quăng vào thì ôi thôi thôi, nước bùn dính vào áo quần đỏ quạch, khốn tới khốn lui. Những bạn nào ở khu 2 từng thưởng thức các món chiên xào bằng dầu dừa (đặc sản của xóm biển khu 2) ắt hẳn phải nhớ đời. Thoạt đầu thì muốn… bứt xô bởi cái mùi hăng hắc của nó, nhưng thét rồi lại đâm ghiền.
Cuối cùng thì hai năm học cũng mau chóng qua đi. Đêm cuối cùng chuẩn bị rời trường sao mà trống rỗng; cái ý nghĩ sắp phải rời xa ngôi trường thân yêu làm cho mình có cảm giác vậy chăng? Chúng tôi, một nhóm khoảng mươi đứa rủ nhau ôm sách, vở lên trường chất đống quanh trụ cờ làm lễ… đốt sách (?!). Nhưng mới đốt đâu vài cuốn thì thầy Hiệu trưởng xuất hiện; ông giận dữ mắng mỏ một hồi; nhân lúc thầy nghỉ lấy hơi, có đứa buột miệng thưa (giọng điệu theo lối Kiếm hiệp “Kim Dung”):
-Dạ thưa thầy, không phải chúng em ra trường là trả chữ nghĩa lại cho thầy cô đâu ạ! Chữ nghĩa nằm cả trong bụng chúng em hết cả rồi, đã biến thành… vô chiêu, mà vô chiêu thì ắt sẽ thắng hữu chiêu đấy ạ!
Nghe vậy, thầy chưng hửng, không hiểu sao ông lặng lẽ đi vào nhà.
Có điều khi đang học, xem ra người nào cũng tơ-lơ-mơ nhưng sau khi ra trường, mỗi khi dạy học tới tình huống nào là những kiến thức tiềm tàng trong đầu lập tức tuôn ra rất đúng lúc để ông thầy kịp thời ứng phó ngay. Đấy không phải vô chiêu thắng hữu chiêu là gì.
Cái trường này cũng thật lạ. Bạn đồng môn, cùng khóa hay khác khóa, cùng lớp hay khác lớp, quen biết hay chưa quen biết, gần như đều có chung sợi dây vô hình kết nối tình thân ái. Mỗi khi nghe đâu đó hoặc gặp đâu đó mấy từ SPQN là tìm cách hỏi han làm quen ngay, chỉ vài ba câu là chuyện nổ như bắp rang (nói hoài không hết). Ôi! Buổi ra trường phơi phới lòng xuân, hẹn một ngày sẽ tìm dịp thăm nhau cùng nhau ngồi trước sân nhìn trâu đạp lúa. Một ước mơ bình dị vậy mà khi hết chiến tranh rồi, bạn bầu lại càng tan tác chia xa không phải là ở tận cùng đất nước mà phải nói là tận cùng trái đất, sống kiếp ly hương nơi đất khách quê người. Vậy mà khi gặp lại nhau vẫn thấy thân quen như mới vừa xa cách. Thôi thì:
Trải qua bao song gió
Mừng còn được gặp nhau
Thôi thì chuyện bể dâu
Chi mô mà vướng bận
Đời mi dù lận đận
Đời tao cũng rứa thôi
Nâng ly toét miệng cười
Cho “goa”… cho qua thời cát bụi

QUÊ NHÀ THỜI TUỔI NHỚ



Tản mạn – Nguyên Đạt k5

Tôi nôn nóng nhảy vội xuống xe, một làn gió mát rượi lướt qua làm lay bay những sợi tóc mây loà xoà trước trán, khung cảnh quê nhà hiện ra trước tầm mắt, gần gũi thân quen đến lạ. Tuy không thường xuyên về thăm quê, nhưng hễ có cơ hội là tôi lập tức nắm bắt để thực hiện nỗi ước mong khao khát của mình ngay; mỗi lần về cảm giác có khác, nhưng bao giờ cũng thấy lòng dạ háo hức nôn nao như mới buổi đầu trở lại.
Băng qua cánh đồng vàng ươm thơm mùi nếp mới, tôi nhẩn nha bước chậm lại khi đi dưới vòm tre râm mát, tai mở căng, thích thú lắng nghe tiếng kẽo cà kẽo kịt quen thuộc của những thân cây già rên rĩ va quệt vào nhau bởi làn gió biển khơi bền bĩ thổi vào không lúc nào ngơi nghỉ. Cũng con đường này, ngày xưa còn bé, tôi đã cùng bạn bè từng in dấu chân trần ngày hai buổi tới ngôi trường làng tít tận cuối xóm thôn suốt bao năm tháng...
-Cô Hà! A! Cô Hà về tụi bây ơi!
Tiếng reo mừng của đứa cháu gái con anh Hai làm tôi giật mình, khựng lại giây lát, rồi không biết từ ngóc ngách nào, ba bốn nhóc nữa nhảy ra, đứa giành xách tay, đứa ôm lưng, đứa khiêng va ly, vầy đoàn rồng rắn hộ tống, tíu tít hỏi chuyện khiến bà cô tôi lúng túng chẳng biết đường nào trả lời. Bước hẳn vào ngôi nhà mát mẻ, nơi sinh ra và lớn lên suốt thời thơ ấu bên tình thương ruột thịt với sự bao bọc chở che của ông bà cha mẹ, bà con chú bác, tôi thấy tâm hồn mình tự nhiên trở nên thư thái yên bình đến dễ chịu, tưởng chừng bao cơ cực lo âu của cuộc sống tất bật đời thường bấy lâu nay như đã hoàn toàn được rũ sạch. Tự thâm tâm, tôi mơ hồ thấy mình có lỗi với quê hương làng nước bởi có lúc dường như bỏ quên trong trí nhớ vì mải lu bu theo vòng đời cơm áo. Bỗng nhiên, từ bãi bờ ký ức xa xôi, dòng hồi tưởng xôn xao chảy về mượt mà êm ả, dấy lên những kỷ niệm buồn vui, ngây ngô khờ dại của một thời dễ nhớ dễ thương.
* * *
... Hồi nhỏ, tôi vốn là một cô bé hiếu động, thường thích chơi với đám con trai hơn con gái nên hay bị mẹ mắng là con bé vô tâm, vô trí (đôi khi lại thay từ là vô tích, vô sự); vậy mà khi ngồi chuyện trò trao đổi với bà con hàng xóm, có lúc bà lại cao hứng đem chuyện cô con gái rượu (vô tích vô sự) của mình ra kể lể như là khoe khoang làm tôi vừa ngượng vừa thắc mắc, cuối cùng đành chắc lưỡi kết luận: Người lớn kỳ thiệt! Chẳng hiểu làm sao nữa. Mà thôi, cho qua chuyện đó đi. Mới lại, hình như mình cũng ngô ngố sao ấy cho nên lũ bạn bè, cả thầy-cô nữa, đôi khi còn lấy mình ra làm trò đùa... giải nhiệt! Ví dụ như hồi học lớp ba, hỗng biết cô giáo bận chuyện gì để thầy Bính dạy thay mấy buổi, một lần thầy gọi cô bé bàn trước đứng dậy trả bài, nhỏ Sơn ngồi cùng bàn lấy kim chích đít khiến cô ta giãy nảy, ấp a ấp úng mãi chẳng trả lời được; thầy phát hiện ra, lập tức cầm viên phấn đang viết dở búng tróc một cái, xui xẻo sao trúng nhằm vào mặt. Tôi nóng nảy đứng dậy phân bua:
-Thưa thầy. Đâu phải em”?
Thầy trả lời giọng tỉnh bơ: “Ừ. Không làm cũng ráng chịu một chút cho… quen!?” khiến tôi ấm ức trong bụng không chịu được, giận lây cả thằng Sơn tai lừa suốt buổi, nhưng chả thèm nhỏ một giọt nước mắt làm kiểu. Lại một lần khác, số là hôm đó tôi cắn phải viên kẹo bi quá cứng, sứt mất một mẻ răng, phải lấy bình nước lọc mang theo súc miệng; lát sau hết giờ ra chơi, thằng Sum đột nhiên kêu lên: -Ôi. Khát nước quá! Ai cho uống nhờ chút coi. Tôi thực lòng mau mắn đưa bình nước ra, hắn gườm gườm ngắm nghía rồi nhăn mặt phán một câu: “Eo ơi! Nước của cậu gớm chết!” làm tôi xấu hổ muốn độn thổ, có lẽ là hắn biết tôi vừa gãy răng, nhưng mình vốn luôn luôn vệ sinh, sạch sẽ cơ mà. Lần đó tôi giận ghê lắm, nhưng rồi cũng chẳng dám giận lâu, bởi ngoài bọn thằng Sơn, thằng Sum ra thì đâu còn có ai nữa để cùng đùa vui.
Sơn là thằng đầu têu của cả bọn, hắn có nhiều sáng kiến và lắm tài vặt, tôi kết nó ở cái tài “bắn giàn thun”. Mỗi khi nó giơ giàn thun lên, hí một mắt lại thì thế nào cũng rơi xuống đất cái “bịch”, khi thì xoài xanh, cóc, ổi hay một nhánh chùm ruột… Tôi chỉ việc nhặt lên chùi chùi vào vạt áo rồi chấm vào bụm muốt ớt thật cay đã thủ sẵn, cắn một cái, nhai rào rạo, vừa nhai vừa hít hà mới tuyệt làm sao.
Tuy lắm tài vặt, giỏi quậy phá, nhưng về chuyện học hành thì hắn quả thật lại quá… tơ-lơ-mơ, bài học thuộc lòng “Làng tôi” ngắn gọn dễ nhớ là vậy, cả lớp ai cũng làu làu mà hắn chỉ ngắc ngứ có bốn câu:
Làng tôi bé nhỏ xinh xinh
Chung quanh có luỹ tre xanh rườm rà
Trong làng san sát nóc nhà
Đình làng lợp ngói có và... i (?) cây cau...
Ngôi làng của tôi nằm dọc theo lộ 15 có con mương dẫn thuỷ quanh năm đầy ắp nước, tưới táp cho mùa vụ luôn được xanh tươi. Phía bên kia, dựa theo triền con sông Ba thơ mộng, các lớp phù sa mầu mỡ mỗi năm đều được bồi đắp thêm, tạo nên những soi dưa ngút ngàn hoa trái. Con sông Ba vào mùa lụt nước mênh mông, từ bờ bên này sang bờ bên kia dễ chừng có hơn nghìn mét, nhưng vào mùa hạ, hai mép nước chỉ cách nhau có vài trăm; nước trong vắt, bãi cát trắng phau không nhiều sình lầy như các con sông khác. Tháng năm hanh nóng, những đồng cỏ khô cằn trở thành nơi cho bọn trẻ thả diều. Nhớ ngày ấy, tôi mê diều đến quên ăn quên ngủ, lắm lúc bị mẹ đánh bầm mông mà chẳng chừa. Buổi trưa, chờ cho cả nhà ngủ ngon là tôi lén bỏ cây roi mây má đã cẩn thận đặt trên bụng làm dấu xuống, vội vàng mang kéo, giấy, cơm nguội theo bọn Sơn, Sum ra gốc mít cặm cụi cắt cắt, dán dán; ai cho được đồng nào cũng để dành mua giây cước. Tập vở nào rồi cũng dần dà lép kẹp vì bao nhiêu giấy cứ bị xé ra bồi dưỡng cho cánh diều sung mãn bay cao. Bị mắng cũng được, ăn đòn cũng xong, hễ thấy đám nhóc bên kia chộn rộn là tôi lẹ làng vạch rào chui qua rồi chạy ù một mạch ra phía bờ sông. Cứ thế, chúng tôi lớn dần lên theo cây xoài, cây mít trong vườn; dòng sông quê nhà đã chở đi không biết bao nhiêu là thuyền lá, bao nhiêu bè chuối chất đầy mơ ước tuổi thơ.
... Ngày ấy, con đường từ nhà đến trường xa lắm nhưng những bước chân trần nhỏ nhắn của tôi và bè bạn vẫn không ngại ngần nhảy nhót tung tăng trên nền đất ẩm ướt, những bờ môi non vẫn rộn rã nói cười khi đi dưới vòm cây râm mát nghiêng bóng chở che, và những đôi mắt trong veo vẫn luôn rộng mở dõi theo bầu trời thẳm xanh chạy dài tít tắp tỏa ánh vàng tươi xuống cánh đồng mênh mông dợn sóng; văng vẳng đâu đây tiếng thì thầm của gió như những lời ru ngọt ngào, quyện hoà trong hương lúa thênh thang.
Ngôi trường chúng tôi theo học hồi đó còn khá đơn sơ, phên tre vách nứa trát bùn, mái lợp tranh, lá cọ; vào mùa hanh khô các chú mèo hoang thường dùng nơi đây làm nơi trửng giỡn khiến nó lỗ chỗ đầy sao, còn đến mùa mưa thì ôi thôi, thầy trò di cư khắp chỗ mà những tập vở vẫn cứ bị ướt nhoè thảm bại; nhưng dẫu sao, mỗi buổi học hồi ấy bao giờ cũng cứ vui như ngày hội.
Học tới lớp Nhứt mà tôi vẫn còn ngu ngơ như... heo nái (?), đi qua nhà thờ thấy bọn trẻ cùng tuổi đọc kinh và hát thánh ca nghe hay quá, về nhà cứ nằng nặc đòi mẹ may cho bộ đồng phục để vào đội Hùng Tâm, giống như hôm nào theo mẹ đi lễ chùa đã lén đem váy áo đi nhuộm thành màu xanh lam để xin nhập vào gia đình Phật Tử. Lần nọ, nhỏ bạn ngồi cạnh bên không thuộc bài bị cô phạt quỳ trên băng ghế, tôi đánh rơi cây bút chì cúi xuống lượm, vô tình phát hiện ra nó không mặc quần lồng, buồn cười quá không nhịn được bụm miệng khúc khích hoài, nhỏ bạn vừa thẹn vừa tức mình thưa cô; nghe vậy cô cũng mắc cười nhưng cố nén, bảo: “Em đã học tới lớp Nhứt cũng hơi lớn rồi, áo váy đẹp thế sao không mặc thêm quần trong vào”. May mắn lần này cô không phạt, chỉ nghiêm mặt răn đe: “Còn bé Hà vô tình thì thôi, nếu như cố ý thì xấu lắm đó!” Bọn thằng Sơn cũng nín khe không dám buông lời chòng ghẹo như những lần trước. Bây giờ thì tôi có uy rồi, láo nháo, cạch một cái là cả bọn... khốn khó hết chơi trò đá dế, bởi nếu tôi không thương tình cho tụi nó vặt những sợi tóc khét mùi cháy nắng của mình thì lũ (đầu trọc) kia đâu có gì để chọc, để xoe cho mấy chú dế sửng cồ hăng máu đá nhau? Bây giờ thì hầu như ngày nào bọn con trai cũng xúm chùm xung quanh tôi hối lộ khi thì trái ổi tới trái xoài, củ khoai lang nướng để cầu cạnh được một... sợi tóc. Được thể, tôi càng làm cao, nhỏng nhẻo mè nheo đòi hỏi đủ thứ; có lần chiều theo tính khí đỏng đảnh của tôi, thằng Sum trèo ra tận chót vót cành cây để hái cho được chùm phượng vỹ đến nỗi té gãy tay phải bó bột cả tháng trời. Rồi cùng với thời gian theo từng tuổi lớn, những trò chơi ngổ ngáo cũng lùi dần vào quên lãng...
-Này. Cô nó sao cứ đực người ra thế? Tắm rửa xong, rồi còn ăn cơm, đi thăm thú bà con nữa chứ?
Tiếng nhắc nhở làm tôi giật mình sực tỉnh, ngượng ngập nhìn bà chị dâu đang sửng người đứng nhìn mình với con mắt lạ lẫm, mỉm cười giả lả:
-Ồ! Mải nhớ chuyện xưa nên quên tuốt mình đang ở đâu nữa. Này bọn trẻ đâu, vào cả đây cô chia quà cho này.
Ừ. Bao nhiêu năm qua tôi đã cố nén lòng, hôm nay gặp lại cảnh cũ vật cũ, nỗi niềm cảm xúc chợt vỡ oà. Tôi ra giếng lấy gầu vục nước, hối hả xối lên đầu, đưa lưỡi đớp và liếm những hớp nước ngọt lịm một cách thích thú; cái giếng thơi của ông nội ngày xưa vốn có tiếng mát lành và lợi nước, bà con trong xóm vẫn thường tới xin kín vài đôi về nấu rượu. Ngôi nhà cao tầng gắn máy điều hòa và phòng tắm có vòi nước nóng tiện nghi hiện đại cùng những bữa ăn thịnh soạn chất đầy sơn hào hải vị ở thành phố hoa lệ bên kia đại dương như đang lùi xa, rất xa, biến thành dĩ vãng.
…Mặt trời đã vàng ửng trên bờ ruộng sau nhà, gió hiu hiu thổi làm cái nóng ngày hè như dịu hẳn, thấp thoáng xa xa, bóng hình hai đứa bé tung tăng trên bờ ruộng mấp mô, chòm tóc cháy xém trên đầu chúng ánh vàng nổi bật lên dưới cảnh ráng chiều. Tôi lắng nghe tiếng cãi cọ ồn ĩ của bọn trẻ chỉ để giành giật mấy con dế lửa mà nhớ da diết những ngày còn nhỏ dại; vào mùa này, tôi không thiếu bất cứ một giống nào bởi lũ con trai thi nhau cung phụng. Hầu như đêm nào mẹ cũng không ngủ được bởi tiếng rền rĩ của lũ ca sĩ không mời mà đến này, phải trở dậy mở cuộc truy lùng, nhưng làm sao bà có thể tìm bắt hết được những chú ve sầu, dế lửa tôi đã khôn ngoan cho trốn kỹ dưới mấy hốc cây, góc kẹt? Cuối cùng đành phải đầu hàng, phì phò chịu trận.
Ừ. Mới đó mà thời gian trôi nhanh thật. Mẹ thường bảo: “Cái gì khi mình đánh mất rồi mới thấy có giá trị, là đáng quí”, bây giờ nghiệm ra mới thấy thấm thía. Ngôi trường ọp ẹp trước kia giờ đây đối với tôi sao mà qúa đỗi luyến nhớ, thân thương. Tiếng thầy giảng bài hôm nào nghe ồm ào rền rĩ, bây giờ nghĩ lại sao dịu ngọt âm vang. Ngày ra trường cũng là ngày chúng tôi chuẩn bị rời quê đi tìm đường hướng tới tương lai riêng lẻ của đời mình; buổi chia tay, đứa nào cũng sướt mướt hẹn nhau khi nào đất nước thanh bình sẽ trở về cùng ngồi trước sân nhà nhìn trâu đạp lúa, một ước mơ bình thường giãn dị vậy, nào ngờ khi hết chiến tranh rồi, lại càng xa ngái nhau hơn. Bạn bè tan tác mỗi đứa một nơi, thậm chí có đứa trôi giạt ra khỏi bến bờ đất nước xa lắc xa lơ, dẫu thường mong nhớ tới nhau nhưng có lẽ suốt khoảng đời còn lại chắc gì có ngày gặp gỡ. Ôi. Gương mặt bạn bầu, những gương mặt hiền hoà khả ái thân thương, kể cả những đứa mình đã từng ghét cay, ghét đắng, từng hành hạ mình như thằng Trân lém chẳng hạn.
Một lần, trong buổi tập văn nghệ chuẩn bị cho lễ bế giảng, đang cùng hai bạn nữ hát tam ca ngon lành thì hắn đứng ở phía dưới chõ miệng phá đám:
Ba cô đứng lại một đồng
Tui thương cô ở giữa mất lòng cô hai bên.
Tôi mắc cỡ nhảy qua bên phải thì hắn lại hát:
Ba cô đứng lại một đồng
Tui thương cô bên phải mất lòng hai cô.
Vậy là tôi giận hết chỗ nói, hổng thèm nhìn cái mặt mẹt ấy hơn cả tháng trời. Học lớp chín rồi mà tôi dường như vẫn là con bé ngu ngơ, cả tin như nai rừng và đa nghi như... như gì nhỉ? À, như... thỏ đế (?). Cả lớp có hơn cả chục đứa con gái, chẳng hiểu sao bọn con trai cứ thích xum xoe quanh một mình mình thôi? Hết hái hoa lại bắt bướm, lẽo đẽo đòi tặng làm quẩn chân, quẩn cẳng đến nỗi có lần tôi phát khùng gắt lên:
-Cái thằng... khốn nạn! Sao cứ theo tao hoài vậy?
Đang tươi cười xởi lởi, thằng Sum bỗng ngỡ ngàng đứng trân tại chỗ, lật đật giấu cánh hoa ép sẵn sau lưng, nhăn nhó:
-Ô! Mình có làm gì đâu mà Hà chửi nặng vậy?
Ủa! Khốn nạn là tiếng dùng để chửi nhau ư? Nghe người lớn thường nói với nhau như vậy thì mình cũng nói đại chứ biết đâu? Cũng tại hắn hết, nhưng không, mấy hôm trước bị bệnh nằm nhà, hắn bưng chén cơm qua ngồi gần giường vừa nhai nhồm nhoàm vừa nói: “Hà ơi! Má tao nói mai mốt sẽ cưới mày cho tao đó”. Vậy là tôi ghét luôn cả bà Ba, không thèm qua lại dù cũng hơi tiêng tiếc cái món chè bột lọc bọc đậu phụng rất ngon mà bà thường nấu chiêu đãi riêng hai đứa; sau đó, để chuộc lỗi làm lành, hắn đã cố thỏa mán cái thói đỏng đảnh của tôi bằng cách trèo lên chót vót cành cây phượng vỹ, hái cho được chùm hoa đỏ ói đến đỗi té gãy tay phải bó bột cả tháng trời.
Thằng Sum sau đợt nghỉ hè năm đó đã theo bà Ba về lại Cần Thơ, quê ngoại nó. Chà. Sum bây giờ không biết đang ở đâu nhỉ, chẳng biết còn nhớ đến mình không? Buổi chia tay hôm đó giữa hai đứa hoá ra cũng không được tròn vẹn như ý muốn:
-Hà ơi!
-Gì??
-Từ nay đừng… mày tao với Sum nữa nhé!
-Sao thế? Vậy phải gọi mày bằng gì?
-Gọi bằng... Anh, xưng em. Tụi mình bây giờ lớn hết cả rồi mà.
-Eo ôi! Không được đâu. Vậy nghe kỳ lắm. Vả lại tao đã quen...
-Lại mày-tao nữa rồi! Hà đã nói là...
Chưa hết câu, bỗng nhiên thằng Sum kiễng người hôn đại vào má tôi đánh chụt rồi nhảy vội lên tàu. Tôi bàng hoàng không kịp phản ứng, đang đưa tay xoa má thì hồi còi chuyển bánh đã xé tan màn đêm yên tĩnh.
Lặng người đứng trên sân ga bâng khuâng dõi theo đoàn tàu lướt trôi xa dần, tôi có cái cảm giác như vừa đánh mất, hay đúng hơn, bị ai đó lấy đi cái tuổi hồn nhiên vô tư vô lự của mình.