Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

SƯ PHẠM QUINHƠN - NGÔI TRƯỜNG THỜI TUỔI NHỚ

Nguyên Đạt K5

Cuộc sống với bao mối bận tâm của vòng đời cơm áo kéo ta mãi trôi theo dòng chảy đến nỗi gần như lãng quên đi mọi thứ, thế rồi bất chợt một trưa hè nào đó trên đường về nhà, nghe tiếng ve râm rang trên hàng phượng vỹ, dòng ký ức bỗng dưng được khơi gợi, và những kỷ niệm của một thời hoa gấm mộng mơ đổ về làm xao xuyến tâm tư. Đã có một lần như thế với tôi vào dịp cuối năm khi lục tủ để thanh lý những vật dụng không cần thiết, và phát hiện ra chiếc huy hiệu cùng với tấm thẻ giáo sinh trường sư phạm Quy Nhơn để rồi cái góc trời riêng hơn bốn chục năm qua hiện rõ mồn một trong trí nhớ.
Tôi vốn xuất thân từ một gia đình có truyền thống dạy học, ông nội là một trong những cụ đồ nho ít oi còn sót lại, ba tôi cũng là một ông giáo trường làng; ngoài việc rất được bà con quí trọng, thương yêu, nể phục về sự tận tuỵ với nghề, ông còn nổi tiếng là một người đặc biệt, bởi sinh thời thường mỗi khi tới trường, ông chỉ mặc độc chiếc áo dài đen, đi guốc mộc trong khi trang phục của các đồng nghiệp đã là đồ Âu, đi giày đế cứng. Trong một lần máy bay Pháp thả bom nhầm xuống vùng tạm chiếm, ông đã bị thương tật khi cố lao vào đám cháy để cứu mấy cậu học trò còn mắc kẹt trong phòng học. Câu chuyện bi tráng đó đã để lại một ấn tượng rất thiêng liêng trong cõi nhớ; thế nên sau khi đậu tú tài, khác với những người bạn đồng lứa, tôi chọn nghề dạy học như là một sự đương nhiên tiếp nối hoài bão của cha ông mình.
Nghề dạy học bất cứ thời nào cũng vậy, vốn không phải là nghề béo bở nhưng để được làm thầy nào phải chuyện giản đơn. Tôi nhớ hồi đó suốt cả dãy đất miền Trung từ Quảng Trị tới Bình Thuận chỉ mới có Sư phạm Quy Nhơn (Sư phạm Huế mấy năm sau mới mở) là trường duy nhất đào tạo giáo viên bậc Tiểu học với số lượng tuyển sinh hạn chế nên rất khó đổ. Nhiều anh vượt qua kỳ thi viết với số điểm rất cao, thi vấn đáp cũng trả lời gọn gàng đâu đó, lên bảng viết: “Miệng nói lời hay-tay làm việc tốt” nắn nót rất đẹp, vậy mà cuối cùng bảng vàng chẳng thấy đề tên! Hỏi các bậc đàn anh mới biết, hoặc là khi viết xong do quên lau bảng, hoặc lau bảng không đúng cách làm bụi phấn mù bay dính đầy râu tóc và… nhiều thứ linh tinh khác như ngoại hình, cách ăn mặc, đi đứng (nói chung là TƯ CÁCH)… mình cho là chuyện nhỏ không để ý nhưng khi tuyển chọn một người để đào tạo thành một ông “thầy” thì các vị giám khảo lại rất quan tâm.
Cầm mấy thứ “đồ cổ” trên tay, tôi săm soi ngắm nghía mà trong dạ cảm thấy bùi ngùi như đang gặp lại người bạn thiết thân của một thời xưa cũ. Chiếc huy hiệu thì phía mặt sau gần như bị rỉ sét gần hết, may mắn mặt trước vẫn còn y nguyên, tấm thẻ giáo sinh thì xỉn màu vàng ố, bốn góc te tua vì dán nhậm, cái bảng tên thì sứt sẹo, tróc hết nước sơn. Vậy mà nếu không nhờ có “bọn chúng” làm tấm bùa hộ mệnh để mỗi khi ra đường gặp mấy anh quân cảnh thì ắt đã bị xét hỏi lôi thôi.
Bạn à. Đúng nghèo vốn không phải là cái tội nhưng cũng vì thiếu tiền không kịp đóng học phí đúng kỳ hạn nên nhà trường không làm hồ sơ cấp giấy hợp lệ quân dịch, để rồi suýt nữa tôi phải từ bỏ ước mơ của mình,
… Hai năm ở trường Sư phạm chỉ là một thời gian quá ngắn so với cả một đời người, nhưng cũng đủ dài để luyện rèn cho tôi, từ một cậu học sinh ngu ngơ rụt rè lần đầu tiên sướt mướt rời vú mẹ lên đường học nghiệp, và khi bước ra đời thì đã trở thành một người chững chạc tự tin, có một lý tưởng để đi theo, một hoài bão để vươn tới.
Trong các thầy cô, người gây ấn tượng nhất đối với tôi là thầy Đoàn Nhật Tấn. Thú thật, tôi vốn học hành hơi a-ma-tưa nhưng giờ lý thuyết sư phạm của thấy thì chưa khi nào vắng mặt. Mỗi khi vào lớp là thầy thao thao bất tuyệt, không thèm nhìn ngắm học trò, vậy mà đứa nào cũng há mỏ chăm chú lắng nghe không bỏ sót chữ nào. Năm 2002 có dịp dự đại hội cựu giáo sinh SPQN ở khu du lịch Thanh Đa (cơ ngơi của anh Hòa khóa 11) rồi lần sau ở quán Trầu Cau (cũng của vợ chồng anh chị cựu giáo sinh) tôi có gặp được thấy Bồn (vẫn năng động, hoạt bát như ngày nào) thầy Hoàng Song Nhi và một số thầy cô dạy khóa sau chưa biết tên, đáng tiếc không có thầy Tấn. Còn thầy Mẫn, Hiệu trưởng nghe đâu sau năm 75 sống ẩn cư ít giao tiếp với bên ngoài.
Ở Sài Gòn hằng năm, Hội cựu giáo sinh SPQN thường tổ chức họp mặt vào ngày chủ nhật đầu tiên của tháng 7 dương lịch để anh em đồng môn khi đưa con thi đại học ở Sài Gòn có dịp ghé tham dự. Còn Huế thì chọn ngày 01/8 để họp mặt. Riêng Phú Yên thì lâu lâu mới tổ chức gặp gỡ một lần. Năm 2006 chúng tôi tổ chức một cuộc hành hương về trương cũ, khi đứng trước cổng trường, cảm thấy hụt hẫng vì sự đổi thay, biến thiên của cuộc đời, tự nhiên ai cũng muốn khóc. Nhìn chung, tổng thể không thay đổi gì mấy nhưng những công trình vá víu, lại thêm các hạng mục đang dở dang khiến cho anh em cảm thấy xa lạ buồn tủi, phải kéo nhau về trường mẫu giáo của anh Bảo gặp gỡ mấy thầy cũ và bạn đồng môn ở Qui Nhơn sinh hoạt tới khuya để khỏi bỏ công lặn lội.
Khu nội trú của trường Sư phạm hồi ấy chỉ dành cho nữ nên những giáo sinh nam chúng tôi phần đông phải tìm nhà trọ ở khu 6 hoặc khu 2 ăn-ở rẻ nhưng bẩn chật, giường chiếu mùng mền đều thiếu. Con đường tới trường vào mùa hè bốc đầy bụi đỏ, về mùa đông thì loang loáng những vũng nước mưa, nhiều bữa xui xẻo gặp mấy đứa trẻ rắn mắt lấy cục đá quăng vào thì ôi thôi thôi, nước bùn dính vào áo quần đỏ quạch, khốn tới khốn lui. Những bạn nào ở khu 2 từng thưởng thức các món chiên xào bằng dầu dừa (đặc sản của xóm biển khu 2) ắt hẳn phải nhớ đời. Thoạt đầu thì muốn… bứt xô bởi cái mùi hăng hắc của nó, nhưng thét rồi lại đâm ghiền.
Cuối cùng thì hai năm học cũng mau chóng qua đi. Đêm cuối cùng chuẩn bị rời trường sao mà trống rỗng; cái ý nghĩ sắp phải rời xa ngôi trường thân yêu làm cho mình có cảm giác vậy chăng? Chúng tôi, một nhóm khoảng mươi đứa rủ nhau ôm sách, vở lên trường chất đống quanh trụ cờ làm lễ… đốt sách (?!). Nhưng mới đốt đâu vài cuốn thì thầy Hiệu trưởng xuất hiện; ông giận dữ mắng mỏ một hồi; nhân lúc thầy nghỉ lấy hơi, có đứa buột miệng thưa (giọng điệu theo lối Kiếm hiệp “Kim Dung”):
-Dạ thưa thầy, không phải chúng em ra trường là trả chữ nghĩa lại cho thầy cô đâu ạ! Chữ nghĩa nằm cả trong bụng chúng em hết cả rồi, đã biến thành… vô chiêu, mà vô chiêu thì ắt sẽ thắng hữu chiêu đấy ạ!
Nghe vậy, thầy chưng hửng, không hiểu sao ông lặng lẽ đi vào nhà.
Có điều khi đang học, xem ra người nào cũng tơ-lơ-mơ nhưng sau khi ra trường, mỗi khi dạy học tới tình huống nào là những kiến thức tiềm tàng trong đầu lập tức tuôn ra rất đúng lúc để ông thầy kịp thời ứng phó ngay. Đấy không phải vô chiêu thắng hữu chiêu là gì.
Cái trường này cũng thật lạ. Bạn đồng môn, cùng khóa hay khác khóa, cùng lớp hay khác lớp, quen biết hay chưa quen biết, gần như đều có chung sợi dây vô hình kết nối tình thân ái. Mỗi khi nghe đâu đó hoặc gặp đâu đó mấy từ SPQN là tìm cách hỏi han làm quen ngay, chỉ vài ba câu là chuyện nổ như bắp rang (nói hoài không hết). Ôi! Buổi ra trường phơi phới lòng xuân, hẹn một ngày sẽ tìm dịp thăm nhau cùng nhau ngồi trước sân nhìn trâu đạp lúa. Một ước mơ bình dị vậy mà khi hết chiến tranh rồi, bạn bầu lại càng tan tác chia xa không phải là ở tận cùng đất nước mà phải nói là tận cùng trái đất, sống kiếp ly hương nơi đất khách quê người. Vậy mà khi gặp lại nhau vẫn thấy thân quen như mới vừa xa cách. Thôi thì:
Trải qua bao song gió
Mừng còn được gặp nhau
Thôi thì chuyện bể dâu
Chi mô mà vướng bận
Đời mi dù lận đận
Đời tao cũng rứa thôi
Nâng ly toét miệng cười
Cho “goa”… cho qua thời cát bụi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét