
Trong cơn hoảng loạn của những ngày cuối cuộc chiến tháng 3 năm 1975, tôi cũng như những người dân hai tỉnh Quảng Trị Thừa Thiên khác, tay xách nách mang kéo nhau chạy vào Đà Nẵng để sau đó tìm cách xuôi Nam mong tìm con đường sống, nhưng vì bụng mang dạ chửa, đành phải quay về trình diện Ty Tiểu học xin trở lại nhiệm sở. Nhận lớp dạy được một tháng lại xin nghỉ hộ sản, định nghỉ trước một tuần để chuẩn bị ai dè mới ba hôm đã đến ngày sinh.
Huế mớí đổi chủ khoảng hơn một tháng, thiên hạ di tản khắp nơi, có người lọt ra được nước ngoài, người còn ở lại Sài Gòn, Nha Trang… chưa trở về. Bệnh viện Huế cũng vậy, Bác sĩ, nhân viên cũ chỉ còn lại một số rất ít, thay vào đó là những y công, bác sĩ, y tá toàn người miệt ngoài giọng nói lạ hoắc nên khi chuyển bụng vào Bệnh viện Trung ương Huế nằm chờ, tôi lo sợ đủ điều. Sinh nở lần đầu không là chuyện dễ, phải đợi qua một đêm đến trưa hôm sau, sắp lên bàn sinh thì may đâu, một nữ hộ sinh Quốc gia xuất hiện, bao lo âu sợ hãi không còn, thay vào đó là nỗi vui mừng khôn kể. Gặp được cô đỡ người Huế, nhờ Trời thương Phật độ mọi sự tiếp theo sau xẩy ra tốt đẹp, mẹ tròn con vuông.
Ba tháng nghỉ hộ sản qua mau, tôi lại phải tay xách nách mang bồng con trở lại trường ở tập thể, tiếp tục công tác. Sáng dạy, chiều lo giáo án và đủ thứ chuyện linh tinh khác; giờ ra chơi lại phải ba chân bốn cẳng chạy về cho con bú. Giày cao gót, áo quần tha thướt nay đã hết thời, thay vào đó là áo bà ba quần đen cũng tiện cho việc chạy nhanh về với con.
Sau tháng tư năm 75, hầu hết giáo viên phải bán đi một số đồ điện như quạt máy, bàn ủi và những bộ áo dài, áo lông, quần tây và vài thứ vặt vảnh khác để có thêm tiền sinh sống. Một số được sửa lại thành bà ba để mặc với quần chéo đen được mua theo tiêu chuẩn tem phiếu hai năm 5m do “nhà nước” cấp. May nhờ quần áo trước 75 còn lại khá nhiều nên cũng dùng được khoảng hơn chục năm. Ăn thiếu nhưng mặc cũng tạm đủ. Nhiều bạn chưa quen với cách ăn mặc qúa đơn giản, muốn thẳng thớm một chút cứ việc xếp vuốt áo quần đàng hoàng dằn dưới gôí là sáng ngày có đồ thẳng nếp để lên lớp.
Nơi tôi dạy là một cơ sở lẻ ở đình Phổ Lại cách trường chính khoảng 5 phút chạy bộ. Trường tôi nằm bên tỉnh lộ, từ Huế theo QL1 hướng bắc, đến An Lỗ rẽ phải về phía chợ Sịa, một chợ lớn ở thị trấn Sịa thuộc huyện Quảng Điền. Giáo viên dạy các trường quanh vùng An Lỗ, Sịa, một số đạp xe đạp, số khác đi xe đò, các thầy cô độc thân mỗi tuần lên Huế một lần, về với gia đình để được bồi dưỡng vì cả tuần ở lại trường ăn cơm tập thể với mấy con cá “long hội” và canh” toàn quốc “ nên không đủ dinh dưỡng và sức khỏe tốt để lên lớp.
Ngày ngày chị nuôi phục vụ hai lần cơm trưa và tối cho khoảng ba chục giáo viên ở tập thể, đa số là các thầy cô gốc ở thành phố; mỗi lần một nồi cơm lớn gạo tồn kho lâu đời trộn với sắn, khoai hay bo bo, it có cơm rời vì cơm bao quanh những chất độn. Mỗi bàn ăn khoảng từ 4 đến 6 ngườì gồm một tô canh rau, môn hay nưa gì đó nấu loãng và một dĩa cá vụn hay tôm tép; những người ăn nhanh còn có chút mặn miệng, riêng tôi vì tội ăn chậm nên luôn bị thiệt thòi, chỉ nếm được chút hương vị nước canh còn lại ở đáy tô, chưa bao giờ biết cọng rau non già cứng mềm ra sao.
Cũng may nhờ bản chất siêng năng, dạy dỗ đàng hoàng, năm nào cũng đạt danh hiệu giáo viên tiên tiến xuất sắc; điều này có thể không nói lên được điều gì, nhưng tôi nghĩ thời nào cũng vậy, nếu thầy cô biết trang bị cho học sinh có kiến thức để ứng xử với đời, dạy cho con em biết những điều nhân nghĩa để sau này trở thành một người tốt, biết phân biệt trắng-đen, phải-trái là không hổ thẹn với lương tâm, là làm tròn thiên chức nhà giáo, không phụ với ngôi trường Sư phạm Qui Nhơn, nơi mình đã xuất thân là được rồi.
Sau 4 năm chịu thương chịu khó ở trường xa, tôi may mắn hơn các bạn khác, được hiệu trưởng sở tại thương tình đề nghị với Hội đồng Ty Tiểu học cho chuyển lên Huế, gần nhà, thoát nạn cơm tập thể lại được sống trong gia đình có anh em hổ trợ cả tinh thần lẫn vật chất (mặc dầu thời đó ai cũng khó khăn chỉ giúp nhau rất khiêm tốn nhưng cũng được an ủỉ rất nhiều).
Về nhà, mọi việc thuận lợi, con đã lên bốn có thể gởi vào mẫu giáo nhỏ; đời sống có phần ổn định nên đầu óc bớt căng thẳng hơn. Nhiều lúc nhớ lại đoạn đường đã qua mà cảm thấy nao lòng; nội quy của nhà trường không ai được nấu riêng hao tốn củi lửa nên muốn cho con có bữa ăn (không trộn lẫn chất độn) hằng ngày, tôi đã nẩy ra sáng kiến: lấy một túm gạo đem vo sạch, bỏ vào túi vải thắt lại đem gởỉ vào nồì cơm tập thể cho tiện việc. Muốn kho chút thịt cá cho con thì phảỉ chờ tới cuối tuần bếp tập thể nghỉ chỉ còn lại mấy gia đình có con nhỏ, và mấy giáo viên người Quảng Bình vào ở cố định nấu nướng luôn. Có con nhỏ, việc di chuyển khó khăn nên cứ khoảng năm sáu tuần mới về nhà một lần lo cụ bị vài món đồ khô để dành cho con ăn lần. Tội nghiệp, con cái nhỏ dại cũng phải chịu khổ lây. Có một lần, và chỉ một lần độc nhất tôi nhớ mãi. Suốt ngày hôm đó ôm con đi họp đến chiều về không còn chút gì, đành phải rưới nước mắm vào cơm cho nó ăn tạm. Nhìn đứa con thơ há miệng, cố trệu trạo nhai nuốt mấy muỗng cơm thiếu dinh dưỡng mà lòng đau như cắt, không kiềm chế được, tôi đã mặc tình để cho những dòng nước mắt tuôn rơi lả chả.
Tiêu chuẩn lương thực được cấp cho giáo viên mỗi tháng lúc đầu là 15kg (gạo +khoai-sắn+bobo), con ăn theo 5kg nhưng sau vì kinh tế khó khăn nên bớt xuống còn 18kg cho cả hai. Biết lương thực như vậy không đủ nuôi sống nên các xã có kế hoạch cung cấp ruộng và đất khô cho nhà trường để giáo viên cải thiện đời sống. Thế là các thầy-cô nay phải bắt buộc học thêm nghề mới: làm nông. Từ nhỏ chỉ biết cắp sách tới trường, lớn ra đời đi dạy, quen với phấn trắng bảng đen chưa bao giờ biết việc đồng áng, nay phải tham gia sản xuất lao động chân tay: cuốc đất trồng khoai sắn, không quen làm lụng tay chân nên bàn tay phồng lên, đêm về phải lo bóp muối để sáng mai làm tiếp. Khổ nhất là đi cấy lúa cắm đầu xuống đất không quen nên rất khổ, khi gặp đỉa đeo thì hồn phách lên mây, mặt tái xanh, miệng la oai oái.
Để giảm nhẹ công việc, trường thuê trâu cày ruộng trước, giáo viên nhổ mạ trước một ngày, ngày sau bắt đầu giăng hàng ngang tiến quân xuống ruộng. Có bạn sức yếu, nhát gan mới tớí bờ đã té xỉu chỉ vì thấy mấy chú đỉa bơi dưới ruộng, không vì hãi sợ mà bỏ cuộc được, rốt cuộc cả đoàn cùng lội xuống cố gắng làm việc. Có giây giăng sẵn chỉ cắm mạ xuống sâu cho thẳng hàng thì dễ qúa nhưng hôm đầu mới cấy được mấy bụi, đột nhiên thấy nhột nhột, tôi ngoái nhìn xuống thì eo ôi! một con đỉa to tổ bố đang bám chặt vào bắp chân, hoảng qúa, tôi vừa nhảy tung tóe vừa khóc la ỏm tỏi, may đâu anh hiệu trưởng người Quảng Bình đã quen viêc đồng áng bước tới, cười cười bảo: “Bình tĩnh, bình tĩnh để tôi bắt cho”, anh ta liền nhổ nước miếng vào và tuột con vật hút máu một cách nhẹ nhàng. Ôi! Một phen hú hồn, mãi hồi lâu tôi mới lấy lại được bình tĩnh và tiếp tục công việc.
Tiếp theo ngày cấy lúa là ba bốn ngày đau, toàn thân rã rời, bước đi không vững, người như bị ai giần chập nát thịt da. Cấy mạ được một hai tháng gì đó lại tập họp làm cỏ lúa, lại phải lội xuống ruộng lần nữa; tuy sợ đỉa nhưng ở thế bắt buộc nên rồi phải cùng nhau làm, có làm thì mới có công điểm, mới được chia lúa; tránh việc không những không được phần lúa lại còn bị kiểm điểm, bị phê bình không chấp hành chính sách cải thiện đời sống của nhà nước, thôi thì khổ thân còn hơn khổ não.
Khi lúa đã chin vàng trĩu hạt không còn sức chịu đựng được ngã rạp theo chiều gíó, một lần nữa đoàn quân lại đổ bộ xuống ruộng với tay liềm tay hái lao động gặt hái đem về rồi đua nhau đập lúa, phơi lúa, phơi rơm đầy cả sân trường vào những ngày học sinh nghỉ, cô thầy chia phiên nhau cào lúa, trở lúa, phơi rơm tấp vào bếp tập thể; lúa được chia phần theo công điểm. Tiếng là làm để cải thiện đời sống nhưng thực tế chia chác chẳng bao nhiêu mà mệt hết hơi. Lần đầu tiên trong đời sau bao nhiêu năm miệt mài sách vở trường lớp, chân giày tay dù, tưởng đâu chỉ biết “trồng người” nay lại biết thêm nghề “trồng cây” để giải quyết bao tử. Thôi cũng nên “cám ơn đời” vì dẫu sao mình cũng có thêm chút vốn liếng và kinh nghiệm sống.
Ngoài số hàng theo tiêu chuẩn tem phiếu, mỗi tháng giáo viên còn được mua hai góí trà, hai bao thuốc lá Tam Đảo, vài trăm gram đường, thỉnh thoảng có kem đánh răng. Được bao nhiêu đều đem bán hết để có thêm tí tiền mua thức ăn, vì thế giáo viên ai cũng thuộc nằm lòng mấy câu thơ mà chẳng biết người nào là tác giả:
Nhà trường nhường trà uống nước trong.
Thầy giáo tháo giầy mang dép lốp.
Hoặc: Giáo chức dứt cháo đón xuân sang… vv… và… vv…
Sau 75, cũng vì đời sống không ổn định nên có nhiều gia đình hai vợ chồng cùng là giáo viên lại đông con, vì chạy giặc mất sạch sành sanh, trở về với hai bàn tay trắng, nheo nhóc đến tận cùng phảỉ kiếm sống bằng đủ loại ngành nghề, gặp người quen hỏi chuyện: -Bữa ni làm gì? Bèn ngỏn ngoẽn trả lời: -Thợ đụng!
-Nè. Thợ đụng là gì hả?
-Là… Là đụng gì làm nấy đó mà…
Ngôi trường ở vùng đất thấp gần đồng ruộng nên cứ đến mùa mưa là phải đôi ba lần dọn lụt. Nếu lụt nhỏ thì còn đỡ, chỉ việc chuyển đồ đạc từ nhà tập thể lên các lớp học có nền cao hơn. Ai có con nhỏ ở chung phòng, kê hai ba bàn học sinh lại làm giường, kiếm chỗ đóng đinh lên tường để giăng mùng, sống dã chiến cho qua những ngày nước lớn.
Một lần nước bắt đầu lớn, tôi lo chuyển đồ dùng lên lớp, tay bưng lỉnh kỉnh các thứ, miệng dặn đứa con ba tuổi: ”Đứng yên đó, mạ bưng đồ lên chạy xuống đón con liền”; không ngờ khoảng năm ba phút gì đó, vừa chạy xuống thấy thằng bé đang bơi trước thềm nhà tập thể, xuôi theo dòng nước chảy về phía ruộng, tôi la thất thanh, run lập cập, các bạn chạy ùa tới bồng lên để vào giường vừa quýnh quáng thay quần áo vừa hú hồn gọi vía, e thằng nhỏ hồn xiêu, phách lạc mà trở thành… lú lẫn đi chăng?! Còn tôi lúc đó chỉ biết ngồi khóc tức tưởi. Cũng may Trời thương Phật độ nên sau đó cháu vẫn bình thường.
Một lần lụt lớn, những người có con mọn được ưu tiên dọn vào đình Phổ Lại, chỗ làng thờ phượng giờ đã trưng dụng làm lớp học, đó là chỗ cao nhất cách trường chính vài trăm mét. Đang mang nặng đồ đạc trên hai vai lội vào đình, thình lình thấy con rắn bằng chiếc đũa bơi theo, hồn vía như lên mây, may sao còn biết nhanh trí, dùng chiếc dép nhựa xua nó đi, qua một phen khiếp sợ. Tối hôm đó, mẹ con ôm nhau ngủ trên mặt bàn, mùng dằn dưới chiếu đàng hoàng thế mà nửa đêm bỗng nghe rớt cái “bịch” cùng tiếng khóc thét, cùng lúc đó mẹ con bạn H. nằm bàn kề bên la lên: “Cu T. rớt chị V. ơi”. Tôi giật mình đánh thót, mắt nhắm mắt mở quờ quạng bồng con lên, may sao, nhờ vướng mùng nên cháu không hề hấn gì chỉ vì thất kinh nên khóc ré đó thôi.
Bao gian nan lao lý qua rồi, giờ đây ôn lại đôi lúc tôi cũng tự phục mình và tất cả những người đàn bà cùng thời, cùng hoàn cảnh đã cố gắng vượt qua gian lao thử thách, không chịu ngã qụi trước mọi thử thách của cuộc đờì để tồn tại, để chờ ngày đoàn tụ với chồng con mãn hạn tù đày “cải tạo”. Viết đến đây nhắc nhớ lại câu nói rất thực tế của thầy dạy môn giáo dục cộng đồng ngày nào: “Người giáo viên phải biết thích nghi với mọi hoàn cảnh xã hội”. Rõ ràng, những kiến thức các thầy cô truyền thụ ở trường Sư phạm trước đây vẫn tiềm tàng trong chúng ta, khi ra đời xàì nó một cách tự nhiên, biết ứng xử đúng theo từng hoàn cảnh. Tiếc rằng sau bao cơn sóng gió, cuộc sống lao đao, đã không có cơ hội để gặp lại các thầy cô, để thăm hỏỉ chứ đừng nóí chi đến chuyện đền ơn, đành sống vong ân bội nghĩa ngoài ý muốn và tự sám hối.
Tất cả nay đã luì vào quá khứ. Đa tạ ơn trên vì Trời dành còn có hôm nay cho chúng ta được hít thở không khí tự do nơi quê hương thứ hai này. Tuổi đời ở ngưỡng cửa thất thập cổ lai chỉ biết :
“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta còn thêm ngày nữa để yêu thương”
Xin mượn bốn câu Kiều của Cụ Nguyễn Du để kết thúc những tâm tình của người viết:
Trời dành còn có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời
………………………………………
Lời quê góp nhặt giông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.
Sacramento, đầu thu 2011
Vinh nguyen (K4 SPQN)