Nguyễn Văn Uông K3
Chiếc xe khách đổ dốc thoai thoải, ôm sát con đường bao quanh mép nước, từ từ tiến vào bến. Nhận xong hành lý ba chúng tôi thả bộ về phía đầu cầu nơi có những cây tùng thẳng tắp và bực ghế đá dưới gốc dành cho du khách thư giãn ngắm hồ. Đây là trung tâm thành phố ư? Những con đường nhẵn thín, yên ắng khác thường, chẳng giống như thành phố quê tôi và những nơi tôi đã đi qua, nhì nhằng, om ả tiếng người và tiếng còi xe đủ loại. Đồi thông bên kia hồ xanh biếc rủ nghiêng xuống mép cỏ ven bờ, in bóng dưới làn nước trong xanh. Vài chiếc xe đạp nước giữa hồ gần xa như thực như mơ hồ huyền ảo. Nắng cuối thu trong ngần từ những chòm mây trắng trên cao dác vàng một lớp lên thành phố. Căn nhà nhỏ nhắn giữa đồi thông và nhà thủy tạ sáng trắng lên trong màu xanh cây rừng ấp ủ, trông như một cảnh thiên thai huyền thoại. Hồ Xuân Hương đây ư? Nơi mà tôi đã từng say đắm với màn sương lảng đảng, những hạt sương e ấp dưới đọt nắng mai, nóc gác chuông bồng bềnh giữa mảng xanh núi đồi đầy sương qua những tấm ảnh bưu thiếp khi tôi còn là cậu học sinh trung học.
Đà Lạt ngày tôi mới đến là thế đấy
Ba đứa chúng tôi nhận sự vụ lịnh phân công về Dalat trong niềm háo hức tuổi trẻ thích đi xa. Hằng ngày, từ nhà trọ lên phố, chúng tôi phải bao gần nửa vòng hồ. Đoạn đường bên này quen thuộc bao nhiêu thì bên kia hồ đối với tôi còn xa lạ lắm. Thời chiến tranh bất ổn, không có việc ít ai qua bên kia hồ. Có những sáng sương giăng kín, không thấy bờ. Có những chiều đàn vịt trời hàng mấy chục con nô giỡn móng nước xao động mặt hồ trước khi rủ nhau về tổ trong các lùm cây phía thượng nguồn. Có lần ba đứa tôi lên xe đạp nước ra giữa hồ, ngắm trời xanh đóng khung trong cái viền xanh của núi đồi. Bàn đạp nước làm vỡ tung tóe mặt hồ rập rình các chùm hoa sóng.
Chúng tôi dạy học ở vùng ngoại ô, chỉ lên thành phố dịp cuối tuần. Bao nhiêu vất vả, mệt nhọc tự dưng tan biến khi ngang qua hồ, tắm mình trong bầu khí mát lạnh. Chúng tôi gắn bó với nơi này như quê hương thứ hai. Nhiều cuộc hội ngộ, chia ly, nhiều người đi qua ánh mắt, có người còn đọng lại, có hình ảnh đã tan biến… đều đi vào kỷ niệm của một thời. Cuộc chiến đưa chúng tôi mỗi đứa về một ngả, chỉ còn mình tôi trụ lại đây như một chứng nhân, một điểm về cho dĩ vãng và có chuyện kể về cuộc tình dang dở của bạn tôi.
Bạn tôi quen một cô nữ sinh áo trắng, mỗi chiều thứ bảy ba chúng tôi vào thủy tạ ngắm hồ. Anh chị một bàn ở góc tối, tôi và người bạn còn lại chung bàn với nhiều người khác. Tiếng nhạc thính phòng tỉ tê trong không gian chiều vắng lặng, dìu dặt những nỗi niềm thầm kín khi hoàng hôn nhuộm đỏ những con sóng nhỏ lăn tăn để rồi chìm dần vào đêm đậm đặc. Tiếng chiều ngân nga từ gác chuông nhà thờ như lời cầu phúc cho một ngày bình yên. Hai người tắm vào cuộc tình say đắm với nhiều kỷ niệm, những cuộc hò hẹn dưới trăng mờ nghe tiếng hồ reo. Sương đêm lạnh ướt vai áo anh quyện vào tóc chị. Xuân về mai anh đào rụng cánh vươn lối hai người bước qua.
Chúng tôi có những ngày thật bình yên ở thành phố này trong khi những nơi khác bom đạn hằng ngày gieo rắc tai họa. Đà khốc liệt của chiến tranh hiện diện dần ở thành phố với việc cư dân nhiều miền ngày càng đổ về đây. Những tiếng bom pháo, lúc đầu chỉ nghe xa xa trong đêm, dần dần tiến về gần hơn. Thành phố xuất hiện nhiều màu áo nhà binh, những cuộc bắt bớ, những nỗi lo sợ khi đêm về. Người ta đã có ý thức lánh xa những nơi tụ tập đông người, hàng quán, nơi vui chơi công cộng. Những cuộc xuống đường của học sinh, sinh viên, những cuộc giao tranh bằng nhiều loại vũ khí với nhiều xác chết của cả hai bên nổ ra trong lòng thành phố. Cô nữ sinh người yêu bạn tôi bị giam giữ sau một đợt biểu tình bạo động. Bạn tôi bị kiểm tra ngoài đường phố và đưa vào trại huấn luyện động viên. Hai người xa nhau theo hai ngõ khác biệt, không một lời chia tay. Anh vào lính. Mấy tháng sau, chị theo bạn bè ra rừng. Mấy năm sau tôi nghe tin anh chết trong chiến dịch Hạ Lào. Tôi đã mất hẳn hai người bạn của tôi.
Hết chiến tranh , tôi vẫn theo nghề cũ, sống trong thành phố này. Một buổi chiều, từ trường về, điều tôi không bao giờ nghĩ đến lại xảy ra. Một người đàn ông đang đùa với lũ con tôi trước sân. Tôi nhìn kỹ một lần nữa, không sai vào đâu được, đúng là Dạng, tên người bạn cũ của tôi. Hai chúng tôi ôm chầm lấy nhau trong sự ngỡ ngàng của lũ con tôi.
-Sao? Đã có tin là cậu chết rồi sao còn lù lù về đây ? Thế là thế nào ?
-Chuyện dài lắm. Mình còn sống về đây là được rồi. Mình hỏi mãi mới tìm được đến đây. Con cái đề huề vui nhỉ ?
Sau chiến tranh, khó khăn hiện rõ trong từng nhà qua mỗi bữa ăn khoai sắn cõng cơm. Tôi theo nghề dạy học nhưng đàn con sống được nhờ sức hai vợ chồng tôi gò lưng trên đám đất khai phá lấn rừng. Dạng lưu lại mấy hôm kể cho tôi nghe nhiều chuyện từ ngày xa thành phố và cuộc đời người lính ngắn hơn cuộc đời người tù của anh. Anh bị lôi vào lính, tung vào chiến trường như một con cờ trong vô số con cờ khác. Trận cuối cùng kết thúc đời lính của Dạng rủi mà may. Trực thăng vận đổ quân xuống trận địa thì rơi vào ổ phục kích khổng lồ. Người chết, người bị thương la liệt. Dạng may mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh trên miền Bắc. Ra tù sau chiến tranh, Dạng về quê cùng gia đình đi kinh tế mới. Nhớ Đà Lạt, Dạng tìm đến đây.
-Thế đã gặp Thủy chưa ?
-Cũng muốn gặp nhưng chưa tiện.
Thủy, tên người yêu cũ của Dạng, hiện làm công tác chính quyền. Thỉnh thoảng tôi gặp cô nhưng không còn niềm nỡ như xưa. Sau mấy lần nấn ná, Dạng tìm đến Thủy. Hai người gặp lại nhau, tôi có dịp về thăm bà Năm trong căn nhà gỗ có khoảnh sân vuông vắn khoét vào sườn đồi giữa xứ mận đào đặc sản vùng quê Tây Nguyên. Ngày xưa, những chiều xuân như hôm nay, mận, đào nở hoa ngát vườn. Hoa mận trắng li ti từng chùm, từng đám. Hoa đào năm cánh hồng phai mặn mà như môi hồng người sơn nữ e ấp dáng xuân. Trong khi tôi và vài người bạn phụ bà Năm, mẹ Thủy, sữa soạn bữa cơm chiều thứ bảy cho những thằng giặc thành phố, từ bà Năm thường ưa gọi chúng tôi, về chơi nhà, Dạng và Thủy thơ thẩn trong vườn hay cập kê góc sân nhìn con đường quốc lộ uốn khúc trườn mình theo dốc đèo xuống huyện lỵ dưới thung lũng xa. Từ góc sân này, những ngày quang mây, nhìn về quê Dạng phía dưới mênh mông một góc trời trong xanh màu nước biển. Hai người đã từng mơ ước ngồi chung xe đổ đèo về vùng quê biển mặn mà gió muối của anh xây dựng ngôi nhà chung trong mộng.
Lần này, Thủy và bà Năm tiếp Dạng trong nhà. Tôi ra góc sân nhìn những chùm hoa muộn của cây mận già. Ngày xưa, gốc mận này sum sê lá cành, đầu xuân từng chùm hoa trắng bập bềnh theo gió rải không biết cơ man nào là những cánh hoa li ti phủ trắng một góc sân. Hè rực nắng, những trái chín căn mọng vàng mượt, nõn nà chi chít đầu cành, trĩu oằn lơi lả chờ tay người hái. Đó là cây mận ngon nhất vườn, bà Năm chỉ để dành đãi khách và làm quà biếu. Chiếc ghế đá nhỏ dưới gốc mận ngày xưa là không gian lí tưởng cho những đôi bạn tâm tình khi chiều xuống hay những đêm trăng nay không còn nữa, thay vào là bức tượng Phật Bà từ ngày Thủy và Dạng đi xa. Tôi với một cành mận nhìn những trái mận nhỏ li ti vừa rụng rốn hoa. Trong chuổi trái này, trái nào sẽ may mắn tồn tại và lớn lên đến ngày cho hương vị ngọt ngào, trái nào sẽ rụng rơi và tan biến vào đất cát... Đêm đó hai người nói chuyện rất lâu. Bà Năm dâng hương khấn nguyện trước sân, lầm rầm cắm trước tượng Phật, thói quen bà có từ ngày an vị bức tượng này.
Chúng tôi từ giã bà Năm và Thủy khi nắng mai xua tan hết màn sương trên triền dốc đất đỏ um tùm cỏ cây. Giữa lưng chừng đồi , tôi quay nhìn căn nhà gỗ chỏng chơ giữa vườn mận đào. Vượt qua hơn 30 cây số dốc đèo về Dalat, chúng tôi không nói với nhau lời nào. Chiều hôm đó Dạng từ biệt tôi. Trong ánh mắt đượm buồn, tôi đã hình dung ra hồi kết của cuộc tình trắc trở. Định kiến và những ràng buộc ý thức không dễ cho họ đến được với nhau. Dạng xiếc tay tôi thật chặt như thầm nói lời chia tay vĩnh viễn.
Vài năm sau tôi được tin Dạng đã ra nước ngoài, Thủy kết hôn với một quan chức trong tỉnh.
Cuộc sống cứ thế trôi qua. Trong sâu thẳm tâm hồn, tôi không còn một mảy may suy nghĩ về mối tình của họ, cho đó chỉ một kỷ niệm đẹp thoáng qua. Cuộc sống của Thủy bình lặng như bao gia đình cán bộ trong thành phố này, công danh thành đạt, con cái trưởng thành. Dạng đã lấy vợ, sinh con, xây dựng gia đình êm ấm ở nước ngoài. Tôi ít nhận được tin của Dạng và nghĩ Dạng đã quên chuyện cũ ngày xưa.
Mấy chục năm lăn lộn với nghề, ngày nghỉ hưu nhiều trắc trở, nặng nề lại đến. Một buổi chiều, khi tôi loay hoay chuẩn bị một số công việc cho xong những ngày cuối cùng ở công sở, một sinh viên gõ cửa, từ tốn chào tôi. Áo dài trắng, tóc xỏa vai, đôi mắt long lanh e thẹn… Hình như tôi đã quen, đã gặp lần nào. Lừng chừng mãi không nhận ra, tôi đành buông một câu quen tần nghề nghiệp:
- Em gặp tôi ? Chuyện gì có cần lắm không ?
- Thưa … Thưa thầy… Mẹ em…
- Ồ!... Đúng rồi!... Mẹ em là Thủy phải không ?
- Dạ! Mẹ em nhờ thầy …
Tôi chăm chú nhìn cô bé, vẫn đôi mắt, cặp môi và nụ cười e thẹn ấy, vẫn bối rối mân mê từng chòm tóc vắt qua ngực rồi đưa lên môi, lên mũi thẹn thùng. Đúng là một bản sao của Thủy, là Thủy của mấy mươi năm trước.
Hôm sau tôi tìm thăm Thủy ở bệnh viện, một xác người khô queo, một khuôn mặt thẩn thờ nhưng đôi mắt như còn ẩn chứa một nỗi niềm cần giải bày. Tôi nói chuyện với Thủy mà cứ ngỡ như đang chuyện trò với cô bé ngồi ở cuối giường chờ săn sóc mẹ. Chồng Thủy là một cán bộ ở tỉnh. Sau ngày bà Năm mất, anh để Thủy xin nghỉ việc về sống ở quê với khu vườn có ngôi nhà gỗ, cây mận già. Thủy thương yêu chồng, biết ơn anh nhưng trong lòng vẫn thấy có điều gì mất mát, nuối tiếc. Cuộc sống gia đình hạnh phúc nhưng những nụ cười của Thủy chưa thật tươi tỉnh, mặn mà. Đôi lần Thủy có mặc cảm người phạm tội và cố quên đi tất cả nhưng quá khứ cứ chờn vờn hiện ra. Thật ra Thủy không còn một nỗi nhớ cụ thể nào nhưng sao cứ thấy nhớ, một sự nhớ xót xa, bâng quơ không dành cho một ai, không dính dáng đến một hình ảnh nào. Thủy nhờ tôi báo cho Dạng biết Thủy ốm và cần gặp anh. Một việc khó cho tôi vì từ lâu tôi không còn liên lạc với anh ấy.
Mấy lần dò hỏi, tôi tìm được địa chỉ những bạn anh ở quê, cuối cùng tôi cũng liên lạc được với Dạng. Nhưng chậm quá rồi, Thủy đi xa trước khi Dạng quay về. Trước khi mất Thủy rất tỉnh táo gởi lại cho tôi một chiếc hộp nhỏ bọc cẩn thận trong một phong bì nhờ chuyển cho Dạng khi gặp anh.
Mấy tháng sau Dạng về. Cũng mùa xuân... Một xe gắn máy hai ông già đổ đèo về thăm chốn cũ. Gởi xe ở dưới quốc lộ, hai chúng tôi ì ạch leo con dốc đất đỏ giữa hai vườn mận đào. Đứng ở hiên trường nhìn màu trời xanh nước biển phía dưới, nhìn khu vườn mận và ngôi nhà gỗ ngày xưa… Nhiều thay đổi lắm. Gần bốn mươi năm rồi còn gì! Ngày mới ra trường Dạng về đây nhận công tác là một thanh niên nhiều hăm hở, bây giờ đã hai thứ tóc thời gian nhuộm màu. Dạng nhớ lại một lần đứng ở hiên trường này nhìn bầu trời và khu vườn có ngôi nhà quen thuộc ấy, một bóng áo trắng hiện ra giữa cơ man hoa đào hoa mận mùa xuân. Gió xuân lay nhẹ vẽ nên vô số hoa nắng lên áo, lên tóc nàng tiên nữ giáng trần. Dạng quen với Thủy từ buổi ấy và gắn bó hơn với khu vườn có ngôi nhà lẻ loi này. Chúng tôi theo lối quen băng qua vườn. Một vài gốc mận, đào còn sót lại, cành lá khẳng khiu như là chứng nhân của một thời đã tàn lụi, không chen nổi với những cây hồng, cà phê mới trồng. Một bóng áo trắng tóc kẹp một nắm gọn gàng sau vần lưng tròn trịa lễ phép chào hai chúng tôi, mời vào nhà. Tôi giới thiệu với cháu đây là bác Dạng về thăm mẹ. Hai chúng tôi thắp hương trước bàn thờ Thủy và bà Năm, thăm mộ hai người. Cháu mời chúng tôi dự bữa cơm trưa cúng mẹ, nấn ná đến chiều rồi trở lại thành phố.
Hơn 20 năm trước, Dạng rời Việt Nam trong một chuyến đi hợp pháp. Nơi Dạng sống ít người Việt, anh luôn khao khát được nghe tiếng mẹ đẻ và các món ăn Việt thân quen. Ở xứ người nỗi nhớ quê hương là nhớ về Thủy. Anh có thói quen ghi nhật ký từ ngày ấy, không nhiều, không thường xuyên, chỉ là những bức thư thầm cho Thủy, nói với Thủy. Anh sống như một người lập dị, ngoài thời gian cho công việc anh ngồi bên chiếc máy tính xem các trang tiếng Việt trên mạng. Lần này về quê anh lưu lại khá lâu vì bên ấy không còn gì ràng buộc. Gần đến tuổi nghỉ hưu thì cũng là lúc Dạng chia tay với người vợ lắm lời cùng đứa con gái không nói được tiếng Việt của anh. Anh đã từ bỏ tất cả cũng dễ dàng như khi đến với nhau. Mấy ngày ở nhà tôi anh thường săm se chiếc hộp gỗ Thủy gởi lại nhưng không mở ra. Tôi hỏi, anh chỉ nói qua loa những gì trong đó anh đã biết rồi. Chiếc hộp là của anh tặng Thủy khi mới quen để cô giữ những bức thư và ảnh.
Anh lên về Đà Lạt và quê anh nhiều lần nhưng không ở nhà tôi. Khi chụp được vài kiểu ảnh đẹp hay gặp chuyện vui, anh rủ tôi nhâm nhi cà phê cùng trao đổi. Một buổi chiều, Dạng chuyền cho tôi một xấp ảnh cũ. Anh cho tôi biết Huyền, người bạn trong ba chúng tôi, đã chọn đến cái chết không bình thường ở xứ người. Huyền định cư ở một Bang lẻ cực bắc nước Mỹ lạnh giá, anh dị ứng với tiếng Anh nên mấy mươi năm ở Mỹ anh chỉ sống bằng nguồn tiền trợ cấp. Huyền nhớ Đà Lạt hơn nhớ quê hương anh. Đây là những tấm Dạng chọn ra trong mớ ảnh còn lại của Huyền. Tôi dừng lại ở tấm hình bốn chúng tôi (có thêm Thủy) dưới gốc mai anh đào bên hồ. Ảnh đen trắng nhưng tôi vẫn nhận ra màu mai anh đào đung đưa cùng gió xuân ngày ấy:
-Cây mai anh đào bên kia đường đối diện chỗ chúng ta đang ngồi đây. Ngày ấy còn hai nhánh, thân bổ nghiêng ra hồ. Cậu và Huyền vắt vẻo bám hai nhánh cây. Chụp hình xong Huyền rơi tỏm xuống hồ. Thật một phen cười hú vía.
Dạng nhắc lại kỷ niệm cũ dưới gốc mai anh đào ngày ấy. Cây mai anh đào tôi ngắm thường ngày mỗi lần hoa nở. Nhánh lớn nay chỉ còn một gốc khô, nhánh nhỏ lớn lên thay thế và đứng thẳng dáng hơn. Mai anh đào năm nay nở muộn sang xuân. Tôi nhìn một cặp tình nhân chọn ghi những kiểu hình đẹp dưới tán hoa. Câu hát ngày xưa chúng tôi thường nghêu ngao hiện về “Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai”.
Ngày cuối cùng Dạng rời Đà Lạt, chúng tôi trở lại quán cà phê này nhìn hồ chiều. Hàng mai anh đào đã rậm lá non, vài cánh hoa muộn lạc lõng trong màu xanh non nõn nà không đủ sức trì níu hương xuân. Dạng cho tôi biết ý định về sống lâu dài ở đây. Tôi nghĩ đó là một chọn lựa cảm tính. Tôi mơ hồ nhớ lại buổi trưa trò chuyện với An, con Thủy, trong ngôi nhà gỗ giữa vườn mận, đào. “Khi ra trường, cháu sẽ xin về dạy học tại trường này như mẹ cháu thường mơ”. Tôi bắt đầu hoang mang về mãnh lực của thứ tình cảm đầu đời nghiệt ngã.
4/2009
Ugno.Vn
Chiếc xe khách đổ dốc thoai thoải, ôm sát con đường bao quanh mép nước, từ từ tiến vào bến. Nhận xong hành lý ba chúng tôi thả bộ về phía đầu cầu nơi có những cây tùng thẳng tắp và bực ghế đá dưới gốc dành cho du khách thư giãn ngắm hồ. Đây là trung tâm thành phố ư? Những con đường nhẵn thín, yên ắng khác thường, chẳng giống như thành phố quê tôi và những nơi tôi đã đi qua, nhì nhằng, om ả tiếng người và tiếng còi xe đủ loại. Đồi thông bên kia hồ xanh biếc rủ nghiêng xuống mép cỏ ven bờ, in bóng dưới làn nước trong xanh. Vài chiếc xe đạp nước giữa hồ gần xa như thực như mơ hồ huyền ảo. Nắng cuối thu trong ngần từ những chòm mây trắng trên cao dác vàng một lớp lên thành phố. Căn nhà nhỏ nhắn giữa đồi thông và nhà thủy tạ sáng trắng lên trong màu xanh cây rừng ấp ủ, trông như một cảnh thiên thai huyền thoại. Hồ Xuân Hương đây ư? Nơi mà tôi đã từng say đắm với màn sương lảng đảng, những hạt sương e ấp dưới đọt nắng mai, nóc gác chuông bồng bềnh giữa mảng xanh núi đồi đầy sương qua những tấm ảnh bưu thiếp khi tôi còn là cậu học sinh trung học.
Đà Lạt ngày tôi mới đến là thế đấy
Ba đứa chúng tôi nhận sự vụ lịnh phân công về Dalat trong niềm háo hức tuổi trẻ thích đi xa. Hằng ngày, từ nhà trọ lên phố, chúng tôi phải bao gần nửa vòng hồ. Đoạn đường bên này quen thuộc bao nhiêu thì bên kia hồ đối với tôi còn xa lạ lắm. Thời chiến tranh bất ổn, không có việc ít ai qua bên kia hồ. Có những sáng sương giăng kín, không thấy bờ. Có những chiều đàn vịt trời hàng mấy chục con nô giỡn móng nước xao động mặt hồ trước khi rủ nhau về tổ trong các lùm cây phía thượng nguồn. Có lần ba đứa tôi lên xe đạp nước ra giữa hồ, ngắm trời xanh đóng khung trong cái viền xanh của núi đồi. Bàn đạp nước làm vỡ tung tóe mặt hồ rập rình các chùm hoa sóng.
Chúng tôi dạy học ở vùng ngoại ô, chỉ lên thành phố dịp cuối tuần. Bao nhiêu vất vả, mệt nhọc tự dưng tan biến khi ngang qua hồ, tắm mình trong bầu khí mát lạnh. Chúng tôi gắn bó với nơi này như quê hương thứ hai. Nhiều cuộc hội ngộ, chia ly, nhiều người đi qua ánh mắt, có người còn đọng lại, có hình ảnh đã tan biến… đều đi vào kỷ niệm của một thời. Cuộc chiến đưa chúng tôi mỗi đứa về một ngả, chỉ còn mình tôi trụ lại đây như một chứng nhân, một điểm về cho dĩ vãng và có chuyện kể về cuộc tình dang dở của bạn tôi.
Bạn tôi quen một cô nữ sinh áo trắng, mỗi chiều thứ bảy ba chúng tôi vào thủy tạ ngắm hồ. Anh chị một bàn ở góc tối, tôi và người bạn còn lại chung bàn với nhiều người khác. Tiếng nhạc thính phòng tỉ tê trong không gian chiều vắng lặng, dìu dặt những nỗi niềm thầm kín khi hoàng hôn nhuộm đỏ những con sóng nhỏ lăn tăn để rồi chìm dần vào đêm đậm đặc. Tiếng chiều ngân nga từ gác chuông nhà thờ như lời cầu phúc cho một ngày bình yên. Hai người tắm vào cuộc tình say đắm với nhiều kỷ niệm, những cuộc hò hẹn dưới trăng mờ nghe tiếng hồ reo. Sương đêm lạnh ướt vai áo anh quyện vào tóc chị. Xuân về mai anh đào rụng cánh vươn lối hai người bước qua.
Chúng tôi có những ngày thật bình yên ở thành phố này trong khi những nơi khác bom đạn hằng ngày gieo rắc tai họa. Đà khốc liệt của chiến tranh hiện diện dần ở thành phố với việc cư dân nhiều miền ngày càng đổ về đây. Những tiếng bom pháo, lúc đầu chỉ nghe xa xa trong đêm, dần dần tiến về gần hơn. Thành phố xuất hiện nhiều màu áo nhà binh, những cuộc bắt bớ, những nỗi lo sợ khi đêm về. Người ta đã có ý thức lánh xa những nơi tụ tập đông người, hàng quán, nơi vui chơi công cộng. Những cuộc xuống đường của học sinh, sinh viên, những cuộc giao tranh bằng nhiều loại vũ khí với nhiều xác chết của cả hai bên nổ ra trong lòng thành phố. Cô nữ sinh người yêu bạn tôi bị giam giữ sau một đợt biểu tình bạo động. Bạn tôi bị kiểm tra ngoài đường phố và đưa vào trại huấn luyện động viên. Hai người xa nhau theo hai ngõ khác biệt, không một lời chia tay. Anh vào lính. Mấy tháng sau, chị theo bạn bè ra rừng. Mấy năm sau tôi nghe tin anh chết trong chiến dịch Hạ Lào. Tôi đã mất hẳn hai người bạn của tôi.
Hết chiến tranh , tôi vẫn theo nghề cũ, sống trong thành phố này. Một buổi chiều, từ trường về, điều tôi không bao giờ nghĩ đến lại xảy ra. Một người đàn ông đang đùa với lũ con tôi trước sân. Tôi nhìn kỹ một lần nữa, không sai vào đâu được, đúng là Dạng, tên người bạn cũ của tôi. Hai chúng tôi ôm chầm lấy nhau trong sự ngỡ ngàng của lũ con tôi.
-Sao? Đã có tin là cậu chết rồi sao còn lù lù về đây ? Thế là thế nào ?
-Chuyện dài lắm. Mình còn sống về đây là được rồi. Mình hỏi mãi mới tìm được đến đây. Con cái đề huề vui nhỉ ?
Sau chiến tranh, khó khăn hiện rõ trong từng nhà qua mỗi bữa ăn khoai sắn cõng cơm. Tôi theo nghề dạy học nhưng đàn con sống được nhờ sức hai vợ chồng tôi gò lưng trên đám đất khai phá lấn rừng. Dạng lưu lại mấy hôm kể cho tôi nghe nhiều chuyện từ ngày xa thành phố và cuộc đời người lính ngắn hơn cuộc đời người tù của anh. Anh bị lôi vào lính, tung vào chiến trường như một con cờ trong vô số con cờ khác. Trận cuối cùng kết thúc đời lính của Dạng rủi mà may. Trực thăng vận đổ quân xuống trận địa thì rơi vào ổ phục kích khổng lồ. Người chết, người bị thương la liệt. Dạng may mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh trên miền Bắc. Ra tù sau chiến tranh, Dạng về quê cùng gia đình đi kinh tế mới. Nhớ Đà Lạt, Dạng tìm đến đây.
-Thế đã gặp Thủy chưa ?
-Cũng muốn gặp nhưng chưa tiện.
Thủy, tên người yêu cũ của Dạng, hiện làm công tác chính quyền. Thỉnh thoảng tôi gặp cô nhưng không còn niềm nỡ như xưa. Sau mấy lần nấn ná, Dạng tìm đến Thủy. Hai người gặp lại nhau, tôi có dịp về thăm bà Năm trong căn nhà gỗ có khoảnh sân vuông vắn khoét vào sườn đồi giữa xứ mận đào đặc sản vùng quê Tây Nguyên. Ngày xưa, những chiều xuân như hôm nay, mận, đào nở hoa ngát vườn. Hoa mận trắng li ti từng chùm, từng đám. Hoa đào năm cánh hồng phai mặn mà như môi hồng người sơn nữ e ấp dáng xuân. Trong khi tôi và vài người bạn phụ bà Năm, mẹ Thủy, sữa soạn bữa cơm chiều thứ bảy cho những thằng giặc thành phố, từ bà Năm thường ưa gọi chúng tôi, về chơi nhà, Dạng và Thủy thơ thẩn trong vườn hay cập kê góc sân nhìn con đường quốc lộ uốn khúc trườn mình theo dốc đèo xuống huyện lỵ dưới thung lũng xa. Từ góc sân này, những ngày quang mây, nhìn về quê Dạng phía dưới mênh mông một góc trời trong xanh màu nước biển. Hai người đã từng mơ ước ngồi chung xe đổ đèo về vùng quê biển mặn mà gió muối của anh xây dựng ngôi nhà chung trong mộng.
Lần này, Thủy và bà Năm tiếp Dạng trong nhà. Tôi ra góc sân nhìn những chùm hoa muộn của cây mận già. Ngày xưa, gốc mận này sum sê lá cành, đầu xuân từng chùm hoa trắng bập bềnh theo gió rải không biết cơ man nào là những cánh hoa li ti phủ trắng một góc sân. Hè rực nắng, những trái chín căn mọng vàng mượt, nõn nà chi chít đầu cành, trĩu oằn lơi lả chờ tay người hái. Đó là cây mận ngon nhất vườn, bà Năm chỉ để dành đãi khách và làm quà biếu. Chiếc ghế đá nhỏ dưới gốc mận ngày xưa là không gian lí tưởng cho những đôi bạn tâm tình khi chiều xuống hay những đêm trăng nay không còn nữa, thay vào là bức tượng Phật Bà từ ngày Thủy và Dạng đi xa. Tôi với một cành mận nhìn những trái mận nhỏ li ti vừa rụng rốn hoa. Trong chuổi trái này, trái nào sẽ may mắn tồn tại và lớn lên đến ngày cho hương vị ngọt ngào, trái nào sẽ rụng rơi và tan biến vào đất cát... Đêm đó hai người nói chuyện rất lâu. Bà Năm dâng hương khấn nguyện trước sân, lầm rầm cắm trước tượng Phật, thói quen bà có từ ngày an vị bức tượng này.
Chúng tôi từ giã bà Năm và Thủy khi nắng mai xua tan hết màn sương trên triền dốc đất đỏ um tùm cỏ cây. Giữa lưng chừng đồi , tôi quay nhìn căn nhà gỗ chỏng chơ giữa vườn mận đào. Vượt qua hơn 30 cây số dốc đèo về Dalat, chúng tôi không nói với nhau lời nào. Chiều hôm đó Dạng từ biệt tôi. Trong ánh mắt đượm buồn, tôi đã hình dung ra hồi kết của cuộc tình trắc trở. Định kiến và những ràng buộc ý thức không dễ cho họ đến được với nhau. Dạng xiếc tay tôi thật chặt như thầm nói lời chia tay vĩnh viễn.
Vài năm sau tôi được tin Dạng đã ra nước ngoài, Thủy kết hôn với một quan chức trong tỉnh.
Cuộc sống cứ thế trôi qua. Trong sâu thẳm tâm hồn, tôi không còn một mảy may suy nghĩ về mối tình của họ, cho đó chỉ một kỷ niệm đẹp thoáng qua. Cuộc sống của Thủy bình lặng như bao gia đình cán bộ trong thành phố này, công danh thành đạt, con cái trưởng thành. Dạng đã lấy vợ, sinh con, xây dựng gia đình êm ấm ở nước ngoài. Tôi ít nhận được tin của Dạng và nghĩ Dạng đã quên chuyện cũ ngày xưa.
Mấy chục năm lăn lộn với nghề, ngày nghỉ hưu nhiều trắc trở, nặng nề lại đến. Một buổi chiều, khi tôi loay hoay chuẩn bị một số công việc cho xong những ngày cuối cùng ở công sở, một sinh viên gõ cửa, từ tốn chào tôi. Áo dài trắng, tóc xỏa vai, đôi mắt long lanh e thẹn… Hình như tôi đã quen, đã gặp lần nào. Lừng chừng mãi không nhận ra, tôi đành buông một câu quen tần nghề nghiệp:
- Em gặp tôi ? Chuyện gì có cần lắm không ?
- Thưa … Thưa thầy… Mẹ em…
- Ồ!... Đúng rồi!... Mẹ em là Thủy phải không ?
- Dạ! Mẹ em nhờ thầy …
Tôi chăm chú nhìn cô bé, vẫn đôi mắt, cặp môi và nụ cười e thẹn ấy, vẫn bối rối mân mê từng chòm tóc vắt qua ngực rồi đưa lên môi, lên mũi thẹn thùng. Đúng là một bản sao của Thủy, là Thủy của mấy mươi năm trước.
Hôm sau tôi tìm thăm Thủy ở bệnh viện, một xác người khô queo, một khuôn mặt thẩn thờ nhưng đôi mắt như còn ẩn chứa một nỗi niềm cần giải bày. Tôi nói chuyện với Thủy mà cứ ngỡ như đang chuyện trò với cô bé ngồi ở cuối giường chờ săn sóc mẹ. Chồng Thủy là một cán bộ ở tỉnh. Sau ngày bà Năm mất, anh để Thủy xin nghỉ việc về sống ở quê với khu vườn có ngôi nhà gỗ, cây mận già. Thủy thương yêu chồng, biết ơn anh nhưng trong lòng vẫn thấy có điều gì mất mát, nuối tiếc. Cuộc sống gia đình hạnh phúc nhưng những nụ cười của Thủy chưa thật tươi tỉnh, mặn mà. Đôi lần Thủy có mặc cảm người phạm tội và cố quên đi tất cả nhưng quá khứ cứ chờn vờn hiện ra. Thật ra Thủy không còn một nỗi nhớ cụ thể nào nhưng sao cứ thấy nhớ, một sự nhớ xót xa, bâng quơ không dành cho một ai, không dính dáng đến một hình ảnh nào. Thủy nhờ tôi báo cho Dạng biết Thủy ốm và cần gặp anh. Một việc khó cho tôi vì từ lâu tôi không còn liên lạc với anh ấy.
Mấy lần dò hỏi, tôi tìm được địa chỉ những bạn anh ở quê, cuối cùng tôi cũng liên lạc được với Dạng. Nhưng chậm quá rồi, Thủy đi xa trước khi Dạng quay về. Trước khi mất Thủy rất tỉnh táo gởi lại cho tôi một chiếc hộp nhỏ bọc cẩn thận trong một phong bì nhờ chuyển cho Dạng khi gặp anh.
Mấy tháng sau Dạng về. Cũng mùa xuân... Một xe gắn máy hai ông già đổ đèo về thăm chốn cũ. Gởi xe ở dưới quốc lộ, hai chúng tôi ì ạch leo con dốc đất đỏ giữa hai vườn mận đào. Đứng ở hiên trường nhìn màu trời xanh nước biển phía dưới, nhìn khu vườn mận và ngôi nhà gỗ ngày xưa… Nhiều thay đổi lắm. Gần bốn mươi năm rồi còn gì! Ngày mới ra trường Dạng về đây nhận công tác là một thanh niên nhiều hăm hở, bây giờ đã hai thứ tóc thời gian nhuộm màu. Dạng nhớ lại một lần đứng ở hiên trường này nhìn bầu trời và khu vườn có ngôi nhà quen thuộc ấy, một bóng áo trắng hiện ra giữa cơ man hoa đào hoa mận mùa xuân. Gió xuân lay nhẹ vẽ nên vô số hoa nắng lên áo, lên tóc nàng tiên nữ giáng trần. Dạng quen với Thủy từ buổi ấy và gắn bó hơn với khu vườn có ngôi nhà lẻ loi này. Chúng tôi theo lối quen băng qua vườn. Một vài gốc mận, đào còn sót lại, cành lá khẳng khiu như là chứng nhân của một thời đã tàn lụi, không chen nổi với những cây hồng, cà phê mới trồng. Một bóng áo trắng tóc kẹp một nắm gọn gàng sau vần lưng tròn trịa lễ phép chào hai chúng tôi, mời vào nhà. Tôi giới thiệu với cháu đây là bác Dạng về thăm mẹ. Hai chúng tôi thắp hương trước bàn thờ Thủy và bà Năm, thăm mộ hai người. Cháu mời chúng tôi dự bữa cơm trưa cúng mẹ, nấn ná đến chiều rồi trở lại thành phố.
Hơn 20 năm trước, Dạng rời Việt Nam trong một chuyến đi hợp pháp. Nơi Dạng sống ít người Việt, anh luôn khao khát được nghe tiếng mẹ đẻ và các món ăn Việt thân quen. Ở xứ người nỗi nhớ quê hương là nhớ về Thủy. Anh có thói quen ghi nhật ký từ ngày ấy, không nhiều, không thường xuyên, chỉ là những bức thư thầm cho Thủy, nói với Thủy. Anh sống như một người lập dị, ngoài thời gian cho công việc anh ngồi bên chiếc máy tính xem các trang tiếng Việt trên mạng. Lần này về quê anh lưu lại khá lâu vì bên ấy không còn gì ràng buộc. Gần đến tuổi nghỉ hưu thì cũng là lúc Dạng chia tay với người vợ lắm lời cùng đứa con gái không nói được tiếng Việt của anh. Anh đã từ bỏ tất cả cũng dễ dàng như khi đến với nhau. Mấy ngày ở nhà tôi anh thường săm se chiếc hộp gỗ Thủy gởi lại nhưng không mở ra. Tôi hỏi, anh chỉ nói qua loa những gì trong đó anh đã biết rồi. Chiếc hộp là của anh tặng Thủy khi mới quen để cô giữ những bức thư và ảnh.
Anh lên về Đà Lạt và quê anh nhiều lần nhưng không ở nhà tôi. Khi chụp được vài kiểu ảnh đẹp hay gặp chuyện vui, anh rủ tôi nhâm nhi cà phê cùng trao đổi. Một buổi chiều, Dạng chuyền cho tôi một xấp ảnh cũ. Anh cho tôi biết Huyền, người bạn trong ba chúng tôi, đã chọn đến cái chết không bình thường ở xứ người. Huyền định cư ở một Bang lẻ cực bắc nước Mỹ lạnh giá, anh dị ứng với tiếng Anh nên mấy mươi năm ở Mỹ anh chỉ sống bằng nguồn tiền trợ cấp. Huyền nhớ Đà Lạt hơn nhớ quê hương anh. Đây là những tấm Dạng chọn ra trong mớ ảnh còn lại của Huyền. Tôi dừng lại ở tấm hình bốn chúng tôi (có thêm Thủy) dưới gốc mai anh đào bên hồ. Ảnh đen trắng nhưng tôi vẫn nhận ra màu mai anh đào đung đưa cùng gió xuân ngày ấy:
-Cây mai anh đào bên kia đường đối diện chỗ chúng ta đang ngồi đây. Ngày ấy còn hai nhánh, thân bổ nghiêng ra hồ. Cậu và Huyền vắt vẻo bám hai nhánh cây. Chụp hình xong Huyền rơi tỏm xuống hồ. Thật một phen cười hú vía.
Dạng nhắc lại kỷ niệm cũ dưới gốc mai anh đào ngày ấy. Cây mai anh đào tôi ngắm thường ngày mỗi lần hoa nở. Nhánh lớn nay chỉ còn một gốc khô, nhánh nhỏ lớn lên thay thế và đứng thẳng dáng hơn. Mai anh đào năm nay nở muộn sang xuân. Tôi nhìn một cặp tình nhân chọn ghi những kiểu hình đẹp dưới tán hoa. Câu hát ngày xưa chúng tôi thường nghêu ngao hiện về “Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai”.
Ngày cuối cùng Dạng rời Đà Lạt, chúng tôi trở lại quán cà phê này nhìn hồ chiều. Hàng mai anh đào đã rậm lá non, vài cánh hoa muộn lạc lõng trong màu xanh non nõn nà không đủ sức trì níu hương xuân. Dạng cho tôi biết ý định về sống lâu dài ở đây. Tôi nghĩ đó là một chọn lựa cảm tính. Tôi mơ hồ nhớ lại buổi trưa trò chuyện với An, con Thủy, trong ngôi nhà gỗ giữa vườn mận, đào. “Khi ra trường, cháu sẽ xin về dạy học tại trường này như mẹ cháu thường mơ”. Tôi bắt đầu hoang mang về mãnh lực của thứ tình cảm đầu đời nghiệt ngã.
4/2009
Ugno.Vn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét