Hiển thị các bài đăng có nhãn TRUYỆN NGẮN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRUYỆN NGẮN. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

Lao Xao Sóng vỗ

Truyện ngắn - Hà Nhân K3
Người xưa thường ví cuộc đời như bóng câu qua sổ, nó trôi đi thật nhanh, mới đó mà đã đến lúc da mồi, tóc bạc, đến tuổi “xưa nay hiếm”, cái tuổi mà khi còn nhỏ nhắc đến thấy ớn da gà, mà nay chính mình đang nằm trong hiện thực. Với độ tuổi này thì chẳng mấy đẹp, nên tâm hồn thường hoài niệm về quá khứ, tuổi thơ, độ thanh xuân… Vì đó là khoảng thời gian đẹp nhất mà nhiều người cảm thấy thú vị, thoải mái, vô tư, yêu đời nhất.
Tuổi thơ có những trò chơi nho nhỏ cùng bạn bè, những người thân thích đồng lứa tuổi, như đánh bi, ù mọi, đánh căn cù, bơi lội, câu cá, bắt bướm, hái hoa, trốn tìm, nhảy dây…Đến độ tuổi thanh xuân, sự kết tình bè bạn nó ở trong những cảm nhận khác, ngoài những bạn trai, còn có thêm những người khác phái. Như Đán là một người bạn thân của tôi, anh ta đã kể cho tôi nghe về những người bạn gái (theo nghĩa V.N.) khi anh bắt đầu học lớp Đệ Tam (lớp 10) cho đến khi anh vào học trường Sư Phạm Qui Nhơn.
Đán tâm sự với tôi như thế này (chỉ ghi lại những chuyện nằm trong khoảng thời gian cần nhắc đến mà thôi):
”Qui Nhơn là cái tên mà tôi(Đán) nghe từ nhỏ do bà dì ruột tôi kể lại, vì có một thời gian bà theo chồng làm Ty Điền Địa ở đất này, hồi đó nghe xa vời làm sao, nhưng bây giờ tôi đã đặt chân đến.
Qui Nhơn có một cảnh biển đẹp, với bờ cát trắng một phần được phủ bóng bởi những hàng dương im mát, thanh tịnh. Tôi rất thích thú được ngồi dưới những chiếc dù tự nhiên ấy để hưởng gió mát khi chiều lên, hoặc vào những sáng chủ nhật thả bộ ra đó để bơi lội, vui đùa với sóng. Tôi rất thích nước, nên biết bơi từ hồi nhỏ, vì tôi được sinh ra bên một dòng sông mang tên gọi “Người tình”, và lúc học trung học thường cùng bè bạn ra bến Văn Lâu (không phải ngồi câu) mà để lao mình xuống nước, gội rửa những mồ hôi đất bụi sau mỗi chiều đá banh; có hai điều phải lưu ý khi tắm ở bến này là: gốc dừa nhọn nhô lên mặt nước và những “củi súc”bềnh bồng trôi theo dòng …
Thôi thì, bỏ lại những con sông quê hương, để đến với biển cả, biển Qui Nhơn_đúng thật là Qui Nhơn, vì mảnh đất này là nơi hội tụ những cánh nhạn từ muôn phương về đây cùng chung một mái trường Sư Phạm, có thể từ đó đượm tình đơm hoa kết trái. Có những con ong chỉ hút nhụy hoa thơm ngọt rồi sải cánh bay xa, trái lại có bông hoa chỉ mở ra nhởn nhơ trong quãng thời gian ngắn ngủi rồi từ từ khép lại, làm cho đôi bên phải thẩn thờ, ray rức khôn nguôi…
Nhưng với Đán chẳng sao cả, hình như chàng không có duyên nợ với những nàng “Gõ đầu trẻ”. Thấy người ta cặp kè, hò hẹn, chàng cũng cố tranh thủ bắt chước, nhưng chẳng đâu vào đâu. Ví như có khoảng thời gian chàng làm quen với Hà, người bạn học cùng lớp, nơi nàng cũng có vài kỷ niệm nho nhỏ như: tặng nón bài thơ xứ Huế cho nàng, hẹn gặp nhau ở bãi biển để hóng mát, chụp hình (chỉ chụp thôi). Hà nói giọng Nha Trang với cái miệng mom móm thời đại, nét mặt xinh, ăn ảnh với độ tuổi tương đồng với Đán.
Ý tưởng của Đán bao giờ cũng nhìn người mình thích dưới một lăng kính màu hồng, bao giờ cũng thanh cao, trong trắng, trinh nguyên. Nhưng không may vào một buổi chiều chủ nhật, Đán lên trường Sư Phạm tìm Hà, thì thấy nàng cùng bốn, năm người bạn xách một số đồ hộp chạy dọc hàng rào ngăn cách giữa trưòng và khu quân sự Mỹ, tự nhiên Đán cảm thấy thất vọng, chàng liền quay xe trở về và từ đó dù ở bên bờ biển mặn, nhưng những hạt muối không thể làm mặn mà lại một chút tình mỏng manh, mới chớm trong sương chiều.
Qui Nhơn đất gầy, Đán ở đó cũng gầy theo, gầy đến nỗi sợ bị bay nhào xuống eo biển mỗi lần đạp xe qua cuối đường phi đạo(nếu gặp lúc máy bay cất cánh), nên có lúc Đán nghĩ: chắc mình phải đèo theo một cục đá ở porte bagage mới yên tâm. Hồi đó, con ngựa sắt vốn biết mình cứng cỏi, nên nó bèn bàn với Đán: Nếu muốn được an toàn và êm êm một chút thì ông chủ nên chở vật gì đó mềm mềm thôi nghe!
Chuyện nghĩ chơi thành thực, cũng là một sự tình cờ, có người nhờ Đán chở một giáo sinh (sau Đán một khóa), xuống phố thăm bà dì vào những ngày chủ nhật. Cô ta dáng thon gầy nên không trở ngại trong việc đưa nàng đi lại. Nàng mang cái tên nhẹ nhàng dễ thương, như “tên hiệu bột trẻ em ăn” thời bấy giờ (dễ nhớ cũng dễ quên). Tôi không nhớ những gì tôi đã nói với nàng trên quãng đường ngắn ngủi đó, có thể tôi hỏi han rất ít, vì tính nàng trầm lắng, nhu mì. Đối với tôi, nàng giống như một trong một áng mây trắng, nhẹ nhàng mơ màng bay qua trời tôi…
Rồi lại một áng mây trắng nữa, nhưng áng mây này cuối cùng một nửa pha đen và hình như có vài giọt nước rơi rơi… Đán không quen nàng từ thuở còn đi học, chỉ nghe phong phanh tên nàng từ những bạn bè ngưỡng mộ thỉnh thoảng nhắc đến mà thôi. Nàng tên Hồng Liên, một cái tên đẹp, mỗi lần nhắc đến là Đán nghĩ về hồ Tịnh Tâm, một cái hồ rêu phong, thơ mộng cho những cặp tình dưới ánh trăng mờ. Nhưng Hồng Liên không sống trong Thành nội Huế, mà ở một phương trời xa, nên Đán chỉ gặp mặt nàng trong khoảng thời gian chuẩn bị trước khi đi học trường Sư phạm. Buổi gặp đầu tiên đó đã tạo cho Đán một ấn tượng nhẹ nhàng, hay hay về nàng, hình như trong chàng có một ý tình sâu xa, một giấc mơ đẹp cho mãi về sau…
Thế rồi, cũng chỉ là cơn mộng, chàng cảm thấy hụt hẫng, khi phải chứng kiến đôi tình nhân sớm chớm nở trên bờ cát trắng dương xanh. Ồ! Có lẽ nàng đã bắt gặp được đối tượng, cũng mừng cho nàng; mừng trong sự xót xa, như đánh mất một vật gì quí báu trong túi chàng vậy.
Từ đó, trong tâm Đán, chàng chẳng nghĩ gì về Hồng Liên, coi đó là một sự vô duyên đối với Đán. Trong khoảng thời gian này, Đán cũng có một tà áo tím lỡ quên bên vườn thôn Vĩ, một cánh nhạn trắng dưới hàng me Sage Femme_ Huế và đặc biệt là một tờ giấy trắng trinh nguyên chưa hoen màu mực với mái tóc thề đang ươm gió biển bay bay.. . Thời buổi đó, Đán cùng bạn bè thường bàn thảo với nhau chuyện yêu thương đơn thuần hay trong đó có chuyện cộng chung “chỉ số”, tất cả đều tùy hoàn cảnh từng người, có người coi trọng phần này, có kẻ đặt nặng phần kia, nếu có sự cộng hưởng cả hai đằng thì càng quí. Nhưng cuộc đời đâu phải muốn gì cũng được, thường thì được cái này mất cái kia, nên chỉ cần chọn điểm mà mình ưa thích nhất là được.
Trở lại với Hồng Liên, một chuyện coi như đã qua đối với Đán. Nhưng có lần bất ngờ Hồng Liên muốn đi chơi Ghềng Ráng cùng một số bạn, trong đó có Đán. Thấy H.L. rất dịu hiền, xinh xắn như con sáo sậu, nhảy chuyền qua các hòn đá…Làm cho Đán liên tưởng đến bài ca “Ai đem con sáo sang sông…” . Rồi chàng nghĩ tiếp: Có lẽ gặp lúc chuyện tình nắng mưa trở chứng, nên nàng muốn xé lẻ để thay đổi không khí, mượn người khác để giải khây vậy thôi! Nên Đán coi đó như chuyện gió thoảng mây bay, không bận tâm vướng mắc đến nàng.
Đán biết trước khi vào Qui Nhơn, H.L. đã có “bồ”, tuy nhiên chắc không được đậm đà gì cho lắm, nên lúc đến đây nàng sang số một cách tỉnh bơ, dễ dàng như nước chảy lá môn. Đán không mặc cảm với người tình cũ xa cách núi sông, mà chỉ để tâm với kẻ thực tại, đôi lúc thấy sao sao khó tả. Chàng có cái tính không thích dây dưa với cuộc tình, dứt là dứt hẵn và thường có một bóng hồng tiếp nối điền vào khoảng trống. Nên lúc đó hình ảnh H.L. coi như đã qua, không còn rung cảm, xao xuyến mỗi khi chàng gặp nàng. Với những cảm nhận không đẹp đó đã ăn sâu vào tâm khảm Đán, nên khi trở về quê, chàng đã làm cho mẹ chàng buồn không ít, mẹ đã khóc khi khuyên Đán hãy kết duyên với H.L., một điều làm cho chàng phải ray rức, đành mang tội thất hiếu đối với mẹ. Mẹ nói trong giọt nước mắt là “hai gia đình đã hứa hôn với nhau rồi con ơi!” Làm Đán hết sức phân vân và xót xa về chuyện tình trắc trở đó…Chàng chỉ biết ngậm ngùi thật tình xin lỗi những người lớn cả hai bên và xin lỗi chính nàng, vì giữa hai người có duyên mà không nợ vậy!”
Đó là những chuyện “tình giáo sinh” của Đán, bạn đã kể cho tôi nghe sau hơn bốn mươi năm xa cách, nhân một cơ hội được gặp lại nhau trên đất khách quê người. Tôi thấy cuộc đời Đán thi vị hơn tôi nhiều, tôi thì khô khan như sỏi đá, cục bắt hòn, cha mẹ đặt đâu ngồi đó, trường cữu như sóng vỗ bờ.
Đời người thay đổi và đất trời cũng đổi thay theo. Bờ biển Qui Nhơn không còn thơ mộng như xưa, giờ đây phi đạo trở thành vườn nhà chen chúc, Thị Nại không còn mang tên đầm đìa nữa, mà biến thành phố xá, thật đúng với câu mà người xưa thường nói: “Thương hải biến vi tang điền”. Và chúng ta cũng vậy không còn nhởn nhơ mơ “trăng mờ bên suối”, với mái tóc thề đen láy, cùng tà áo trắng bay bay…Tất cả đều nhường lại, quay về thực tại là có thể cặm cụi vui chơi với đàn cháu nội, ngoại, hay ra vườn chăm sóc hoa quả (thực vật) hoặc ngày ngày thả bộ ngoài trời hít thở cho “ngọc thể cổ” được sáng tươi lâu dài hơn, thêm bước nữa là tham gia việc xã hội, từ thiện, tôn giáo, hội ái hữu để ôn lại những kỷ niệm vui, buồn xa xưa… Còn với biển, con sóng bạc đầu vẫn mãi mãi lao xao…

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011

NGẢ RẼ MỘT DÒNG SÔNG

Truyện ngắn-Nguyên Đạt K5


Thủy đưa mắt thấp thỏm nhìn ra bên ngoài, thấy bầu trời dần dần hửng sáng trở lại, bụng khấp khởi mừng thầm. Cuối cùng thì cơn mưa dai dẳng suốt buổi chiều cũng tạnh hẳn; nếu không có đống bao xi-măng vừa thu mua được trong ngày có lẽ nàng đã đội mưa đạp xe về từ lâu để kịp lo bữa cơm chiều cho con cái. Nghĩ cũng buồn cười và có vẻ gần như mâu thuẫn, mới hồi trưa đây thôi, nàng đã mừng rỡ vì thu mua được nhiều bao, vậy mà bây giờ nàng thấy đống bao ấy là gánh nặng khó có thể kham nổi suốt chặng đường về. Tội nghiệp lũ trẻ, đợi mẹ tới khuya chắc đói bụng lắm đây, nhà có phần bẩn chật khó nghèo nên bao nhiêu tiêu chuẩn đều dồn cả vào bữa ăn chính, lắm bận mắc việc về nhà muộn, nàng muốn la rầy lũ trẻ cứ khư khư ôm bụng đói chờ mình nhưng rồi thấy chúng mặt mày rạng rỡ tíu ta tíu tít dọn cơm, trong lòng tự nhiên dịu lại. Ôi! Những cử chỉ săn sóc dù nhỏ nhoi nhưng biểu hiện biết bao yêu thương trìu mến. Vả lại, tạo được nề nếp gia đình như thế cũng tốt thôi. Cứ mỗi bữa ăn, cả nhà lại quây quần đông đủ bên nhau, và nàng mỉm cười hạnh phúc với bầu không khí gia đình thuận hoà đầm ấm, quên đi những nỗi truân chuyên của cuộc sống đời thường.
… Những sợi nắng cuối ngày đã tắt hẳn từ lâu. Xóm làng bắt đầu chìm khuất dần trong màn đêm thẫm đậm. Đạp xe dưới vòm tre dày dặc, Thúy gần như phải mò mẫm từng li, từng chút. Không khí mát dịu nhưng lưng nàng thì ướt mượt mồ hôi. Một vài lọn tóc xổ ra dính bệt vào trán, nàng cũng chẳng buồn để ý. Đống bao xi-măng cột chặt sau pọc-ba-ga càng lúc càng nặng trĩu như có ai đó trì níu lại. Nàng chơi lại trò chơi từ thuở nhỏ: thầm đếm một, hai… cố giữ cho đôi chân rã rời theo kịp vòng quay chiếc xe đạp mi-ni. Mải cắm cúi đạp, khi ngửng đầu lên, nàng mừng rỡ quá đỗi vì ánh đèn thành phố hiện rõ trước tầm mắt. Chỉ còn một quãng ngắn nừa thôi là sẽ tới nhà… Nàng rướn người trên yên xe, vội vã băng qua ngả tư con giao lộ để vào thành; đột nhiên trước mắt nàng loá lên ánh sáng của ngọn đèn pha và tiếng còi chói tai. Nàng giật mình, lạc tay lái, loạng quạng đâm sầm vào cột điện ở góc đường… Hình như trước lúc ngất đi, trong mơ màng, nàng vẫn cố gọi hai tiếng: “Bình ơi! Bình ơ…ơi!...”
… Sau tháng tư năm bảy lăm, Thúy bị lạc mất chồng, rồi tiếp liền sáu bảy năm sau đó, do nằm trong diện giáo viên thuộc chế độ cũ được lưu dung, nàng bị thuyên chuyển về dạy học ở một ngôi trường thuộc vùng quê xa xôi hẻo lánh, thiếu hẳn phương tiện giao lưu nên càng bặt tin chồng hơn. Lần hồi theo thời gian, nàng gần như mất hết hy vọng gặp lại Bình, người chồng yêu thương ngày cũ. Khoảng thời gian này nhờ ở sổ gạo và số tem phiếu ăn theo do nhà nước cấp, mấy mẹ con cũng sống tằn tiện đắp đổi qua ngày. Thế rồi nàng được thuyên chuyển về lại thành phố theo nguyện vọng. Lúc đó những khó khăn mới bắt đầu nảy sinh. Nhà cha mẹ chồng đã có cô Ba và chú Út dời về ở chung nên nàng phải xin nhà trường thu xếp cho một góc nhỏ phía sau nhà kho để ở tạm. Góc nhỏ ấy không đủ chỗ cho cả bốn mẹ con, nàng buộc lòng xin gởi đứa con trai nhỏ nhờ ông bà nội nuôi giùm. Chuyện ở như thế cũng tạm ổn, nhưng nào chỉ có chuyện ở bởi vì các con nàng đang độ tuổi lớn, những nhu cầu về ăn mặc, sách vở… ngày càng bức thiết hơn. May mà chỗ ở khá gần ga xe lửa nên nàng bắt chước một số bà con lao động trong xóm sắm một đôi thùng, dăm ba cái thau nhỏ, gánh nước lên sân ga, chờ những chuyến tàu xuôi ngược Bắc-Nam đổi cho hành khách rửa ráy mặt mày tay chân kiếm ít tiền gọi là cải thiện thêm bữa ăn hằng ngày. Nhờ vậy, mấy đứa nhỏ khi ngồi vào mâm, mặt mày bớt nhăn nhó bởi nồi cơm quá nhiều chất độn.
Vào một ngày đẹp trời nào đó khoảng gần cuối năm, đứa con trai nhỏ được phép ông bà về chơi nhà, lần này không hiểu sao cứ nấn ná mãi tới chiều vẫn chưa chịu rời; gặp lúc chỉ còn hai mẹ con, nó chợt thủ thỉ:
-Mẹ ơi! Nội vừa nhận được thùng hàng lớn lắm. Có cả máy hát nữa mẹ ạ!
Nàng ngạc nhiên hỏi:
-Hàng của ai gởi vậy con?
-Dạ… Con không biết. -Thằng bé tiếp: -Khi người ta đưa hàng tới, ông nội, cô Ba và chú Út ngồi thì thầm bàn chuyện với nhau lâu lắm, lũ nhỏ tụi con thì nội đuổi ra ngoài chơi, không cho lại gần.
Câu chuyện đứa con trai vừa kể, tự nhiên khiến Thủy đâm ra bận tâm, thằng nhỏ đi từ lâu rồi mà nàng cứ ngồi thừ bên chậu rửa chén mải miết ngẩm ngợi “Từ ngày về làm dâu nhà này trước sau hơn chục năm, mình có thấy ai trong số anh em bà con nội ngoại ở nước ngoài đâu nhỉ?”. Nàng lan man suy nghĩ: “Hay là anh ấy? Anh Bình…!”. Nhưng rồi nàng ngờ ngợ “Nếu đúng là anh ấy sao lâu nay không thèm liên lạc thư từ gì với mẹ con mình? Lẽ nào?!... Tình nghĩa là thế, thân thương là thế cơ mà?!”. Bỗng dưng, trí tưởng đưa nàng về vùng trời kỷ niệm xưa cũ. Đã bao năm tháng qua rồi, nhưng nàng vẫn còn nhớ như in những ngày ấy.
… Thủy-Bình quen nhau từ hồi còn theo học ở các lớp bậc trung học đệ nhị cấp, khi đậu tú tài rồi mà cả hai có vẻ như vẫn… vô tư; nhiều lần cùng nhau rong chơi, khi thì chè bắp Cồn Hến, bánh khoái Đông Ba hoặc sóng đôi giung giăng bát phố mỗi chiều thứ bảy nhưng chưa một lần dám nắm tay nhau. Bên Thủy, Bình dường như sẽ luôn luôn chỉ là một anh chàng vệ sĩ nhút nhát hay cả thẹn của lòng nàng, nếu như... không có một lần, hai người bỗng dưng cao hứng rủ nhau vào rạp xi-nê coi phim Rô-mê-ô – Ju-li-et. Chuyện tình buồn của hai người thuộc hai dòng tộc thù địch đã cuốn hút mọi người mải mê xem. Đến đoạn chàng Rô-Mê-Ô sững sờ, vật vã bên xác người yêu rồi rút gươm tự sát trong nhà mồ thì đâu đó có tiếng thổn thức, rồi lại có tiếng cười khẩy: -Đúng là đàn bà. Chỉ cái mau nước mắt! Nhưng chỉ một đỗi sau, chính người đàn ông ấy lại ôm mặt âm thầm nức nở. Không khí trong rạp như chùng cả lại. Nàng đã vùi mặt vào vai chàng rấm rức làm nhòe đi một phần lưng áo, mắt cả hai đều đẫm lệ. Chàng cảm động bảo nàng: -Em ơi! Bây giờ chúng mình hãy giao kết với nhau, mình sẽ chung thuỷ với nhau trọn đời, đừng bao giờ chia lìa em nhé!? -Và nàng đã thổn thức nguyện ý gật đầu. Chàng đã giao kết với nàng chân tình như thế trong bầu không khí thiêng liêng như thế, lẽ nào bây giờ lại quên hết rồi sao?!
… Sau buổi đó, một bận tới nhà cha mẹ chồng, nàng thấy không khí trong nhà có vẻ sao sao ấy. Ông bà chỉ gật đầu lấy lệ đáp lại lời chào của nàng rồi ngậm tăm. Cô Ba, chú Út thì kiếm cớ lãng đi đâu đó. Loanh quanh, luẩn quẩn một lúc chẳng biết làm gì, Thủy chán nản định về, bất chợt ánh mắt nàng bắt gặp cái cassette mới tinh chễm chệ nằm trên đầu tủ, trầm trồ: -Chà... Nội mới sắm được cái cát-sét đấy à! Thật mừng ba mẹ có cái để nghe cải lương cho đỡ buồn lúc tuổi già nhỉ! -Cả hai ông bà nhìn nhau, rồi quay sang nàng mỉm cười gượng gạo. Nàng sắp chào từ giã thì bố chồng đột nhiên lên tiếng:
-Thủy à!... Mấy bữa rày ba có chuyện muốn nói với con nhưng…
-Dạ, có gì đáng ngại đâu ba, dâu con trong nhà cả mà.
-Ba… Ba vừa nhận được thư của Bình.
-Trời ơi! Đúng y như… -Nàng kêu lên rồi vội vàng lấy tay bụm miệng, hai mắt mở lớn, háo hức chờ đợi…
-Nhưng… Nó thật đáng trách con à. Nó đã có vợ khác ở bên Mỹ rồi. Hơn mười mấy năm còn gì.
Nàng có nghe lầm không nhỉ? Chẳng lẽ sự thể lại xảy ra trần trụi thế sao hở trời! Nàng muốn hét lớn rồi khóc oà lên cho thoả cơn tủi cực nhưng cố nén, gượng trấn tỉnh hỏi: --Ba cho con địa chỉ của anh ấy đi. Con phải viết thư hỏi anh ấy cho ra lẽ. -Ông già trù trừ lo ngại: -Đây chỉ là địa chỉ tạm thời. Nó sắp dọn về Ca-Li rồi, để lần sau ba đưa con địa chỉ chính thức.
Sợ phải khóc trước mặt ông già, nàng lật đật xin phép ra về. Sau lưng nàng có tiếng thở dài thườn thượt(?) đuổi theo. Ồ không. Hình như đó là tiếng thở phào nhẹ nhõm của một con người đã trút đi được gánh nặng đeo đẳng bấy lâu nay(?).
Những lần sau đó khi tới nhà cha mẹ chồng, nàng chỉ biết ngồi cô đơn trong sự ghẻ lạnh. Cô Ba, chú Út thi nhau đánh chó chửi mèo, cố tình làm cho nàng bức xúc, sớm bỏ ra về. Chẳng bao giờ nàng nhận được cái địa chỉ mà bố chồng đã từng ngọt ngon hứa hẹn. Đứa con trai nhỏ của nàng không được thường xuyên về thăm nhà như trước nữa, mỗi lần muốn thăm nó thật khó khăn. Chẳng đặng đừng, nàng phải đem thằng bé về hẳn nhà mình. Lập tức sau đó cả cô Ba, chú Út và ông nội xuất hiện: -Nó là cháu đích tôn của tao. -Ông nội nói: -Để đó tao nuôi. -Một trận xô xát, giành giựt xảy ra, phải nhờ bà con lối xóm nhảy vào can thiệp mẹ con nàng mới yên. Bị trận đòn đau nhưng bù lại, cả nhà được ở bên nhau đề huề sum hiệp. Đó cũng là nút dây ràng buộc cuối cùng tháo gỡ mối liên hệ giữa nàng với nhà chồng.
… Cuộc sống ngày càng khó khăn hơn. Những chuyến tàu Nam-Bắc từ lâu đã không còn ghé lại cái ga xép tỉnh lỵ nhỏ bé này nữa. Thủy xoay xở sang một vài công việc khác để bù trừ vào mớ thu nhập cỏn con vừa bị cắt đứt, thế nhưng chẳng đi tới đâu. Thực ra cũng có một vài “mánh” kiếm được tiền nhưng lương tâm nhà giáo không cho phép nàng làm. Rồi có người bày cho Thúy cách đi về các vùng quê tìm mua các bao bì xi-măng cũ thải ra từ những căn hộ của các hào trưởng, cán bộ vừa xây mới, cái nào nên thì giao cho công ty kiếm huê hồng, cái nào rách thì rọc ra làm bao bì nhỏ đem bán cho những cửa hàng khô ở chợ Lớn. Nhờ tận dụng được “nhân công” trong nhà nên số tiền kiếm được cũng tàm tạm. Cuộc sống gia đình nàng dần dà ổn định, có điều, do thường xuyên hít phải bụi xi măng nên thỉnh thoảng nàng bị ho sặc sụa, sức khoẻ có phần giảm sút. Một lần ho nhiều quá Thúy ôm ngực than thở “Không khéo mình nhiễm phải bệnh lao phổi thì khốn!”. Cái dự cảm mơ hồ bất chợt thoáng qua đó khiến tâm trí nàng âm thầm lo lắng dai dẳng mãi.

… Có tiếng gõ cửa, nàng ngẩng đầu lên, bắt gặp cái nhìn của đứa cháu gái, con cô em chồng. Nó rụt rè đưa ra tờ giấy viết vội: -Thưa mợ, đây là địa chỉ của cậu Bình, cháu lén ghi lại trên chiếc phong bì ngoại bỏ quên ngoài bàn nước hồi sáng. Mợ phải gởi thư cho cậu, mợ ạ! -Đứa cháu sà xuống ôm vai Thúy nức nở: -Mợ thông cảm cho cháu. Cả nhà đều như thế. Con… con…
Mợ cháu ôm chầm lấy nhau tràn đầy nước mắt. Bấy lâu ao ước có địa chỉ để viết thư cho chồng nhưng nay có rồi Thúy lại ngần ngại, lần lữa mãi chẳng viết được câu nào. Đứa con gái lớn nghe phong phanh đâu đó cứ bám lấy mẹ hỏi tin ba. Nàng cố tảng lờ cho qua chuyện bởi không muốn để vết thương đời hằn lên tâm hồn con quá sớm…
… Những âm thanh lao xao từ đâu đó gọi nàng tỉnh dậy. Đưa mắt nhìn quanh, Thúy nhận ra lũ con trẻ đủ đầy đang nhao nhác vây quanh mới cảm thấy hoàn toàn yên tâm. Bên giường bệnh, chẳng biết từ hồi nào còn có một bà khách lạ hoắc khuôn mặt béo tốt đang ngồi chăm bẳm nhìn nàng với nụ cười hồn hậu khiến nàng ngạc nhiên ngó sững. Chừng như hiểu ý, bà ta mau mắn tự giới thiệu:
-À! Cô đã tỉnh lại rồi. May mắn quá. Tôi là chủ chiếc xe du lịch thuê bao làm cho cô mắc nạn. Nói thiệt tình, tuy mấy chú cảnh sát giao thông xác nhận không có lỗi trong tai nạn của cô nhưng tôi vẫn không yên lòng bỏ đi trước khi cô khoẻ lại. Dẫu sao cũng tại tiếng còi và ánh đèn xe bất ngờ…
-Đống bao xi măng? -Ánh mắt nàng thầm thì dò hỏi. Đám con hiểu ý mẹ liền nhao nhao:
-Rồi mẹ ạ. Đem hết cả về nhà rồi.
Bà chủ thuê bao chiếc du lịch vốn là một Việt kiều mới về thăm quê, chả biết sao lại đâm ra thương mến mẹ con nàng lạ. Sau vài lần viếng thăm, biết được tình cảnh khó khăn của gia đình nàng hiện đang gặp phải. Bà nhớ tới đoạn đường khổ ải mình đã đi qua trước đây, càng cảm thấy chạnh lòng trăn trở. Trước khi rời khỏi Việt Nam, bà còn tới thăm Thủy lần nữa, và tặng nàng chiếc máy may để nhận hàng gia công về làm thêm bớt khổ. Bà còn bảo nàng đưa địa chỉ của Bình để khi qua lại bên đó, bà sẽ tìm cách liên lạc, nói hết sự tình cho chồng nàng rõ. Thúy cám ơn nhưng nói thêm: -Em xin chị một điều. Em sẽ không nhận gì cả nếu như anh ấy đã… đã sang thuyền!
Bà gật đầu đồng ý nhưng kín đáo lẫm bẩm:
-Có lẽ em sẽ trách chị thôi. Tuy nhiên, chị sẽ làm những gì đáng phải làm.

Ngày… tháng… năm…
Gởi em và các con.
Rất nhiều năm anh cố liên lạc tìm em. Đến khi có thư của gia đình cho biết em đã có chồng rồi đem con đi đâu mất, anh rất đau khổ và thất vọng. Bây giờ biết được chính xác thì sự thể đã quá muộn màng. Anh đã có vợ khác. Anh có bàn với Huệ, cô ta cũng đồng ý bảo lãnh mấy đứa con của chúng mình qua bên này. Dù sao thì em cũng nên nghĩ đến tương lai của bọn trẻ. Phần em, anh sẽ liệu cách cung ứng đầy đủ để cho em làm lại cuộc đời. Mong em thông cảm. Xin đành lỗi hẹn cùng em! Bình.

Nhận đựơc thư chồng, nàng càng xót xa cay đắng. Chuyện gì đến rồi sẽ phải đến nhưng cái sự thực đang phơi bày trước mắt nàng sao mà quá tỡm lợm. Tình đời, tình người tha hoá đến mức này sao hở trời! Mớ tiền tài bằng đô-la đã giết mất lương tri của con người đến đỗi “người lớn” giành ăn với cả những đứa cháu “cưng” máu mủ ruột rà tuổi đời thơ dại. Tệ hơn, còn làm dang dở cuộc đời của một người vợ hết lòng chung thuỷ trung trinh. Trước đây, dẫu không hy vọng được sum họp với chồng, nàng cũng còn có đàn con để mà yêu thương an ủi vỗ về, nhưng sắp tới đây nàng sẽ mất hết, bởi đàn con trẻ cũng sắp sửa rời xa mình.
Sau bữa nhận được thư chồng, nàng đâm ra thẫn thờ thơ thẩn, nói trước quên sau. Suy nghĩ miên man, nàng thấy Bình nói cũng có lý, bởi nàng không thể giống như con chim đà điểu, cứ rúc đầu trốn mãi vào cát trước thực tại được. Dẫu đau đớn trong lòng, nàng quyết định nói rõ sự việc với đàn con để chúng tự quyết định. Không thế thì sau này biết chuyện, lỡ chúng oán hận, nàng sẽ đau khổ suốt đời.
Nàng vùi đầu khóc thầm trong bóng đêm ướt đẫm cả chiếc áo gối. Chiếc áo gối có thêu hình đôi chim Loan-Phượng mà nàng có ý định sẽ mãi mãi rời xa, bởi chúng nào còn có chút ý nghĩa gì đâu đối với nàng nữa?
Tối hôm ấy, sau khi ăn cơm xong, nàng tập hợp lũ trẻ lại:
-Các con ơi! Mẹ vừa nhận được thư của ba.
Bọn trẻ sững sờ rồi tất cả nhao nhao:
-Ba nói nói gì hả mẹ? Ba có gửi tiền, gửi hàng về không mẹ?
Nàng chậm rãi bảo:
-Ba không gửi tiền, gửi hàng nhưng ba muốn bảo lãnh tất cả các con qua bên đó để chăm lo tương lai cho các con.
-Trời ơi! Sướng quá! -Bọn trẻ reo lên: -Vậy chừng nào mẹ con mình đi hả mẹ?
-Chỉ các con thôi. Còn mẹ thì… thì ở lại.
-Sao vậy mẹ? Mình đi gặp ba mà.
Nàng nghẹn ngào:
-Mẹ không thể đi được, vì ba… ba đã có vợ khác… Có vợ khác rồi các con à!
Không khí bỗng nhiên lặng ngắt, rồi bầy trẻ nhao nhác:
-Nhưng khi tụi con đi rồi, mẹ sẽ ra sao?
“Ừ… Khi bọn chúng đi hết cả rồi, mình sẽ ra sao đây nhỉ! Sẽ ra sao…?!?”. Không nén được nữa, Thúy ôm mặt khóc oà. Đứa lớn nhất, rồi tiếp tới hai đứa em kề đồng loạt nhào tới xoắn xuýt ôm chầm vai mẹ tức tửi: -Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Chỉ độc mình cậu Út bé bỏng nghe lỏm bỏm câu được câu mất, ngạc nhiên nhìn mọi người lẩm bẩm: -Nhận được thư Mỹ sao không cười mà lại khóc? Kỳ chưa?!”

Ngày… Tháng… Năm…
THƯ GỬI BA

Chúng con rất vui mừng vì lại được có ba như những ngày trước. Cám ơn ba đã quan tâm tới đường vật chất, tương lai và sự nghiệp của chúng con, nhưng chúng con quyết định ở lại. Ba ơi! Làm sao chúng con bỏ mẹ lại một mình vào lúc này, một khi mà hầu như cùng lúc người đã bị mất đi tất cả… Mẹ sẽ thế nào khi không có chúng con bên cạnh trong những ngày sắp tới hở ba?!
Xin ba thông cảm và hiểu cho chúng con. Thưa ba. Đời sống hiện tại và cả tương lai có thể sẽ còn lắm điều khó khăn thiếu hụt, nhưng ngọn lửa nhân ái của mẹ sẽ thắp sáng cho chúng con thấy vẻ đẹp của tình người và cuộc sống để hướng về phía trước …
Con của ba

Hiếu Hiền-Hiếu Nghĩa-Chí Tín-Chí Trung

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

MÀU HOA TRÊN MÁ AI

Nguyễn Văn Uông K3

Chiếc xe khách đổ dốc thoai thoải, ôm sát con đường bao quanh mép nước, từ từ tiến vào bến. Nhận xong hành lý ba chúng tôi thả bộ về phía đầu cầu nơi có những cây tùng thẳng tắp và bực ghế đá dưới gốc dành cho du khách thư giãn ngắm hồ. Đây là trung tâm thành phố ư? Những con đường nhẵn thín, yên ắng khác thường, chẳng giống như thành phố quê tôi và những nơi tôi đã đi qua, nhì nhằng, om ả tiếng người và tiếng còi xe đủ loại. Đồi thông bên kia hồ xanh biếc rủ nghiêng xuống mép cỏ ven bờ, in bóng dưới làn nước trong xanh. Vài chiếc xe đạp nước giữa hồ gần xa như thực như mơ hồ huyền ảo. Nắng cuối thu trong ngần từ những chòm mây trắng trên cao dác vàng một lớp lên thành phố. Căn nhà nhỏ nhắn giữa đồi thông và nhà thủy tạ sáng trắng lên trong màu xanh cây rừng ấp ủ, trông như một cảnh thiên thai huyền thoại. Hồ Xuân Hương đây ư? Nơi mà tôi đã từng say đắm với màn sương lảng đảng, những hạt sương e ấp dưới đọt nắng mai, nóc gác chuông bồng bềnh giữa mảng xanh núi đồi đầy sương qua những tấm ảnh bưu thiếp khi tôi còn là cậu học sinh trung học.
Đà Lạt ngày tôi mới đến là thế đấy
Ba đứa chúng tôi nhận sự vụ lịnh phân công về Dalat trong niềm háo hức tuổi trẻ thích đi xa. Hằng ngày, từ nhà trọ lên phố, chúng tôi phải bao gần nửa vòng hồ. Đoạn đường bên này quen thuộc bao nhiêu thì bên kia hồ đối với tôi còn xa lạ lắm. Thời chiến tranh bất ổn, không có việc ít ai qua bên kia hồ. Có những sáng sương giăng kín, không thấy bờ. Có những chiều đàn vịt trời hàng mấy chục con nô giỡn móng nước xao động mặt hồ trước khi rủ nhau về tổ trong các lùm cây phía thượng nguồn. Có lần ba đứa tôi lên xe đạp nước ra giữa hồ, ngắm trời xanh đóng khung trong cái viền xanh của núi đồi. Bàn đạp nước làm vỡ tung tóe mặt hồ rập rình các chùm hoa sóng.
Chúng tôi dạy học ở vùng ngoại ô, chỉ lên thành phố dịp cuối tuần. Bao nhiêu vất vả, mệt nhọc tự dưng tan biến khi ngang qua hồ, tắm mình trong bầu khí mát lạnh. Chúng tôi gắn bó với nơi này như quê hương thứ hai. Nhiều cuộc hội ngộ, chia ly, nhiều người đi qua ánh mắt, có người còn đọng lại, có hình ảnh đã tan biến… đều đi vào kỷ niệm của một thời. Cuộc chiến đưa chúng tôi mỗi đứa về một ngả, chỉ còn mình tôi trụ lại đây như một chứng nhân, một điểm về cho dĩ vãng và có chuyện kể về cuộc tình dang dở của bạn tôi.
Bạn tôi quen một cô nữ sinh áo trắng, mỗi chiều thứ bảy ba chúng tôi vào thủy tạ ngắm hồ. Anh chị một bàn ở góc tối, tôi và người bạn còn lại chung bàn với nhiều người khác. Tiếng nhạc thính phòng tỉ tê trong không gian chiều vắng lặng, dìu dặt những nỗi niềm thầm kín khi hoàng hôn nhuộm đỏ những con sóng nhỏ lăn tăn để rồi chìm dần vào đêm đậm đặc. Tiếng chiều ngân nga từ gác chuông nhà thờ như lời cầu phúc cho một ngày bình yên. Hai người tắm vào cuộc tình say đắm với nhiều kỷ niệm, những cuộc hò hẹn dưới trăng mờ nghe tiếng hồ reo. Sương đêm lạnh ướt vai áo anh quyện vào tóc chị. Xuân về mai anh đào rụng cánh vươn lối hai người bước qua.
Chúng tôi có những ngày thật bình yên ở thành phố này trong khi những nơi khác bom đạn hằng ngày gieo rắc tai họa. Đà khốc liệt của chiến tranh hiện diện dần ở thành phố với việc cư dân nhiều miền ngày càng đổ về đây. Những tiếng bom pháo, lúc đầu chỉ nghe xa xa trong đêm, dần dần tiến về gần hơn. Thành phố xuất hiện nhiều màu áo nhà binh, những cuộc bắt bớ, những nỗi lo sợ khi đêm về. Người ta đã có ý thức lánh xa những nơi tụ tập đông người, hàng quán, nơi vui chơi công cộng. Những cuộc xuống đường của học sinh, sinh viên, những cuộc giao tranh bằng nhiều loại vũ khí với nhiều xác chết của cả hai bên nổ ra trong lòng thành phố. Cô nữ sinh người yêu bạn tôi bị giam giữ sau một đợt biểu tình bạo động. Bạn tôi bị kiểm tra ngoài đường phố và đưa vào trại huấn luyện động viên. Hai người xa nhau theo hai ngõ khác biệt, không một lời chia tay. Anh vào lính. Mấy tháng sau, chị theo bạn bè ra rừng. Mấy năm sau tôi nghe tin anh chết trong chiến dịch Hạ Lào. Tôi đã mất hẳn hai người bạn của tôi.
Hết chiến tranh , tôi vẫn theo nghề cũ, sống trong thành phố này. Một buổi chiều, từ trường về, điều tôi không bao giờ nghĩ đến lại xảy ra. Một người đàn ông đang đùa với lũ con tôi trước sân. Tôi nhìn kỹ một lần nữa, không sai vào đâu được, đúng là Dạng, tên người bạn cũ của tôi. Hai chúng tôi ôm chầm lấy nhau trong sự ngỡ ngàng của lũ con tôi.
-Sao? Đã có tin là cậu chết rồi sao còn lù lù về đây ? Thế là thế nào ?
-Chuyện dài lắm. Mình còn sống về đây là được rồi. Mình hỏi mãi mới tìm được đến đây. Con cái đề huề vui nhỉ ?
Sau chiến tranh, khó khăn hiện rõ trong từng nhà qua mỗi bữa ăn khoai sắn cõng cơm. Tôi theo nghề dạy học nhưng đàn con sống được nhờ sức hai vợ chồng tôi gò lưng trên đám đất khai phá lấn rừng. Dạng lưu lại mấy hôm kể cho tôi nghe nhiều chuyện từ ngày xa thành phố và cuộc đời người lính ngắn hơn cuộc đời người tù của anh. Anh bị lôi vào lính, tung vào chiến trường như một con cờ trong vô số con cờ khác. Trận cuối cùng kết thúc đời lính của Dạng rủi mà may. Trực thăng vận đổ quân xuống trận địa thì rơi vào ổ phục kích khổng lồ. Người chết, người bị thương la liệt. Dạng may mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh trên miền Bắc. Ra tù sau chiến tranh, Dạng về quê cùng gia đình đi kinh tế mới. Nhớ Đà Lạt, Dạng tìm đến đây.
-Thế đã gặp Thủy chưa ?
-Cũng muốn gặp nhưng chưa tiện.
Thủy, tên người yêu cũ của Dạng, hiện làm công tác chính quyền. Thỉnh thoảng tôi gặp cô nhưng không còn niềm nỡ như xưa. Sau mấy lần nấn ná, Dạng tìm đến Thủy. Hai người gặp lại nhau, tôi có dịp về thăm bà Năm trong căn nhà gỗ có khoảnh sân vuông vắn khoét vào sườn đồi giữa xứ mận đào đặc sản vùng quê Tây Nguyên. Ngày xưa, những chiều xuân như hôm nay, mận, đào nở hoa ngát vườn. Hoa mận trắng li ti từng chùm, từng đám. Hoa đào năm cánh hồng phai mặn mà như môi hồng người sơn nữ e ấp dáng xuân. Trong khi tôi và vài người bạn phụ bà Năm, mẹ Thủy, sữa soạn bữa cơm chiều thứ bảy cho những thằng giặc thành phố, từ bà Năm thường ưa gọi chúng tôi, về chơi nhà, Dạng và Thủy thơ thẩn trong vườn hay cập kê góc sân nhìn con đường quốc lộ uốn khúc trườn mình theo dốc đèo xuống huyện lỵ dưới thung lũng xa. Từ góc sân này, những ngày quang mây, nhìn về quê Dạng phía dưới mênh mông một góc trời trong xanh màu nước biển. Hai người đã từng mơ ước ngồi chung xe đổ đèo về vùng quê biển mặn mà gió muối của anh xây dựng ngôi nhà chung trong mộng.
Lần này, Thủy và bà Năm tiếp Dạng trong nhà. Tôi ra góc sân nhìn những chùm hoa muộn của cây mận già. Ngày xưa, gốc mận này sum sê lá cành, đầu xuân từng chùm hoa trắng bập bềnh theo gió rải không biết cơ man nào là những cánh hoa li ti phủ trắng một góc sân. Hè rực nắng, những trái chín căn mọng vàng mượt, nõn nà chi chít đầu cành, trĩu oằn lơi lả chờ tay người hái. Đó là cây mận ngon nhất vườn, bà Năm chỉ để dành đãi khách và làm quà biếu. Chiếc ghế đá nhỏ dưới gốc mận ngày xưa là không gian lí tưởng cho những đôi bạn tâm tình khi chiều xuống hay những đêm trăng nay không còn nữa, thay vào là bức tượng Phật Bà từ ngày Thủy và Dạng đi xa. Tôi với một cành mận nhìn những trái mận nhỏ li ti vừa rụng rốn hoa. Trong chuổi trái này, trái nào sẽ may mắn tồn tại và lớn lên đến ngày cho hương vị ngọt ngào, trái nào sẽ rụng rơi và tan biến vào đất cát... Đêm đó hai người nói chuyện rất lâu. Bà Năm dâng hương khấn nguyện trước sân, lầm rầm cắm trước tượng Phật, thói quen bà có từ ngày an vị bức tượng này.
Chúng tôi từ giã bà Năm và Thủy khi nắng mai xua tan hết màn sương trên triền dốc đất đỏ um tùm cỏ cây. Giữa lưng chừng đồi , tôi quay nhìn căn nhà gỗ chỏng chơ giữa vườn mận đào. Vượt qua hơn 30 cây số dốc đèo về Dalat, chúng tôi không nói với nhau lời nào. Chiều hôm đó Dạng từ biệt tôi. Trong ánh mắt đượm buồn, tôi đã hình dung ra hồi kết của cuộc tình trắc trở. Định kiến và những ràng buộc ý thức không dễ cho họ đến được với nhau. Dạng xiếc tay tôi thật chặt như thầm nói lời chia tay vĩnh viễn.
Vài năm sau tôi được tin Dạng đã ra nước ngoài, Thủy kết hôn với một quan chức trong tỉnh.
Cuộc sống cứ thế trôi qua. Trong sâu thẳm tâm hồn, tôi không còn một mảy may suy nghĩ về mối tình của họ, cho đó chỉ một kỷ niệm đẹp thoáng qua. Cuộc sống của Thủy bình lặng như bao gia đình cán bộ trong thành phố này, công danh thành đạt, con cái trưởng thành. Dạng đã lấy vợ, sinh con, xây dựng gia đình êm ấm ở nước ngoài. Tôi ít nhận được tin của Dạng và nghĩ Dạng đã quên chuyện cũ ngày xưa.
Mấy chục năm lăn lộn với nghề, ngày nghỉ hưu nhiều trắc trở, nặng nề lại đến. Một buổi chiều, khi tôi loay hoay chuẩn bị một số công việc cho xong những ngày cuối cùng ở công sở, một sinh viên gõ cửa, từ tốn chào tôi. Áo dài trắng, tóc xỏa vai, đôi mắt long lanh e thẹn… Hình như tôi đã quen, đã gặp lần nào. Lừng chừng mãi không nhận ra, tôi đành buông một câu quen tần nghề nghiệp:
- Em gặp tôi ? Chuyện gì có cần lắm không ?
- Thưa … Thưa thầy… Mẹ em…
- Ồ!... Đúng rồi!... Mẹ em là Thủy phải không ?
- Dạ! Mẹ em nhờ thầy …
Tôi chăm chú nhìn cô bé, vẫn đôi mắt, cặp môi và nụ cười e thẹn ấy, vẫn bối rối mân mê từng chòm tóc vắt qua ngực rồi đưa lên môi, lên mũi thẹn thùng. Đúng là một bản sao của Thủy, là Thủy của mấy mươi năm trước.
Hôm sau tôi tìm thăm Thủy ở bệnh viện, một xác người khô queo, một khuôn mặt thẩn thờ nhưng đôi mắt như còn ẩn chứa một nỗi niềm cần giải bày. Tôi nói chuyện với Thủy mà cứ ngỡ như đang chuyện trò với cô bé ngồi ở cuối giường chờ săn sóc mẹ. Chồng Thủy là một cán bộ ở tỉnh. Sau ngày bà Năm mất, anh để Thủy xin nghỉ việc về sống ở quê với khu vườn có ngôi nhà gỗ, cây mận già. Thủy thương yêu chồng, biết ơn anh nhưng trong lòng vẫn thấy có điều gì mất mát, nuối tiếc. Cuộc sống gia đình hạnh phúc nhưng những nụ cười của Thủy chưa thật tươi tỉnh, mặn mà. Đôi lần Thủy có mặc cảm người phạm tội và cố quên đi tất cả nhưng quá khứ cứ chờn vờn hiện ra. Thật ra Thủy không còn một nỗi nhớ cụ thể nào nhưng sao cứ thấy nhớ, một sự nhớ xót xa, bâng quơ không dành cho một ai, không dính dáng đến một hình ảnh nào. Thủy nhờ tôi báo cho Dạng biết Thủy ốm và cần gặp anh. Một việc khó cho tôi vì từ lâu tôi không còn liên lạc với anh ấy.
Mấy lần dò hỏi, tôi tìm được địa chỉ những bạn anh ở quê, cuối cùng tôi cũng liên lạc được với Dạng. Nhưng chậm quá rồi, Thủy đi xa trước khi Dạng quay về. Trước khi mất Thủy rất tỉnh táo gởi lại cho tôi một chiếc hộp nhỏ bọc cẩn thận trong một phong bì nhờ chuyển cho Dạng khi gặp anh.
Mấy tháng sau Dạng về. Cũng mùa xuân... Một xe gắn máy hai ông già đổ đèo về thăm chốn cũ. Gởi xe ở dưới quốc lộ, hai chúng tôi ì ạch leo con dốc đất đỏ giữa hai vườn mận đào. Đứng ở hiên trường nhìn màu trời xanh nước biển phía dưới, nhìn khu vườn mận và ngôi nhà gỗ ngày xưa… Nhiều thay đổi lắm. Gần bốn mươi năm rồi còn gì! Ngày mới ra trường Dạng về đây nhận công tác là một thanh niên nhiều hăm hở, bây giờ đã hai thứ tóc thời gian nhuộm màu. Dạng nhớ lại một lần đứng ở hiên trường này nhìn bầu trời và khu vườn có ngôi nhà quen thuộc ấy, một bóng áo trắng hiện ra giữa cơ man hoa đào hoa mận mùa xuân. Gió xuân lay nhẹ vẽ nên vô số hoa nắng lên áo, lên tóc nàng tiên nữ giáng trần. Dạng quen với Thủy từ buổi ấy và gắn bó hơn với khu vườn có ngôi nhà lẻ loi này. Chúng tôi theo lối quen băng qua vườn. Một vài gốc mận, đào còn sót lại, cành lá khẳng khiu như là chứng nhân của một thời đã tàn lụi, không chen nổi với những cây hồng, cà phê mới trồng. Một bóng áo trắng tóc kẹp một nắm gọn gàng sau vần lưng tròn trịa lễ phép chào hai chúng tôi, mời vào nhà. Tôi giới thiệu với cháu đây là bác Dạng về thăm mẹ. Hai chúng tôi thắp hương trước bàn thờ Thủy và bà Năm, thăm mộ hai người. Cháu mời chúng tôi dự bữa cơm trưa cúng mẹ, nấn ná đến chiều rồi trở lại thành phố.
Hơn 20 năm trước, Dạng rời Việt Nam trong một chuyến đi hợp pháp. Nơi Dạng sống ít người Việt, anh luôn khao khát được nghe tiếng mẹ đẻ và các món ăn Việt thân quen. Ở xứ người nỗi nhớ quê hương là nhớ về Thủy. Anh có thói quen ghi nhật ký từ ngày ấy, không nhiều, không thường xuyên, chỉ là những bức thư thầm cho Thủy, nói với Thủy. Anh sống như một người lập dị, ngoài thời gian cho công việc anh ngồi bên chiếc máy tính xem các trang tiếng Việt trên mạng. Lần này về quê anh lưu lại khá lâu vì bên ấy không còn gì ràng buộc. Gần đến tuổi nghỉ hưu thì cũng là lúc Dạng chia tay với người vợ lắm lời cùng đứa con gái không nói được tiếng Việt của anh. Anh đã từ bỏ tất cả cũng dễ dàng như khi đến với nhau. Mấy ngày ở nhà tôi anh thường săm se chiếc hộp gỗ Thủy gởi lại nhưng không mở ra. Tôi hỏi, anh chỉ nói qua loa những gì trong đó anh đã biết rồi. Chiếc hộp là của anh tặng Thủy khi mới quen để cô giữ những bức thư và ảnh.
Anh lên về Đà Lạt và quê anh nhiều lần nhưng không ở nhà tôi. Khi chụp được vài kiểu ảnh đẹp hay gặp chuyện vui, anh rủ tôi nhâm nhi cà phê cùng trao đổi. Một buổi chiều, Dạng chuyền cho tôi một xấp ảnh cũ. Anh cho tôi biết Huyền, người bạn trong ba chúng tôi, đã chọn đến cái chết không bình thường ở xứ người. Huyền định cư ở một Bang lẻ cực bắc nước Mỹ lạnh giá, anh dị ứng với tiếng Anh nên mấy mươi năm ở Mỹ anh chỉ sống bằng nguồn tiền trợ cấp. Huyền nhớ Đà Lạt hơn nhớ quê hương anh. Đây là những tấm Dạng chọn ra trong mớ ảnh còn lại của Huyền. Tôi dừng lại ở tấm hình bốn chúng tôi (có thêm Thủy) dưới gốc mai anh đào bên hồ. Ảnh đen trắng nhưng tôi vẫn nhận ra màu mai anh đào đung đưa cùng gió xuân ngày ấy:
-Cây mai anh đào bên kia đường đối diện chỗ chúng ta đang ngồi đây. Ngày ấy còn hai nhánh, thân bổ nghiêng ra hồ. Cậu và Huyền vắt vẻo bám hai nhánh cây. Chụp hình xong Huyền rơi tỏm xuống hồ. Thật một phen cười hú vía.
Dạng nhắc lại kỷ niệm cũ dưới gốc mai anh đào ngày ấy. Cây mai anh đào tôi ngắm thường ngày mỗi lần hoa nở. Nhánh lớn nay chỉ còn một gốc khô, nhánh nhỏ lớn lên thay thế và đứng thẳng dáng hơn. Mai anh đào năm nay nở muộn sang xuân. Tôi nhìn một cặp tình nhân chọn ghi những kiểu hình đẹp dưới tán hoa. Câu hát ngày xưa chúng tôi thường nghêu ngao hiện về “Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai”.
Ngày cuối cùng Dạng rời Đà Lạt, chúng tôi trở lại quán cà phê này nhìn hồ chiều. Hàng mai anh đào đã rậm lá non, vài cánh hoa muộn lạc lõng trong màu xanh non nõn nà không đủ sức trì níu hương xuân. Dạng cho tôi biết ý định về sống lâu dài ở đây. Tôi nghĩ đó là một chọn lựa cảm tính. Tôi mơ hồ nhớ lại buổi trưa trò chuyện với An, con Thủy, trong ngôi nhà gỗ giữa vườn mận, đào. “Khi ra trường, cháu sẽ xin về dạy học tại trường này như mẹ cháu thường mơ”. Tôi bắt đầu hoang mang về mãnh lực của thứ tình cảm đầu đời nghiệt ngã.

4/2009
Ugno
.Vn