Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Bát Phở Mùa Thi


     Tạp bút - Nguyên Đạt



-Xôi hấp… Xôi hấp nóng giòn đây.

"Rõ khổ"! Tiếng rao ấy lại cất lên! Giữa đêm khuya thanh vắng, tiếng rao nghe rõ mồn một cứ như muốn chọc vào tai, dựng đầu người ta dậy; có lúc tôi mặc kệ nhưng cũng lắm lúc thật bực mình vì mới chợp mắt thiu thỉu một tí thì lại phải thức giấc, dỗ hoài cũng không tiếp tục ngủ lại được.

Lần này thì mình không thể chịu đựng nữa, phải làm gì đó để chấm dứt ngay mới được. Tôi thầm nhủ.

Sau một hồi suy đi nghĩ lại, bèn nảy ra ý định lát nữa sẽ gặp cái nhà bác ấy, hỏi xem sao đi bán trễ làm phiền giấc ngủ của bà con vậy? Tiện thể, chỉnh cho ông ấy một trận để không còn tái diễn nữa.

Nghĩ xong là làm ngay, tôi lục túi, thủ sẵn mấy ngàn lẻ rồi lập tức bước xuống nhà, cậu con út đang ngồi học bài thi cũng lập tức đứng dậy xách dép le te chạy theo. Đến trước cổng, tôi lấy hết gân cốt đẩy mạnh hai cánh cửa sắt nặng nề kêu đánh "két" chờ đợi. Tiếng rao vọng lại mỗi lúc một lớn dần. A đây rồi, cái người khiến ta bực mình không ít.

Chiếc xe vừa ló dạng là tôi lập tức bước hẳn ra, hách dịch gọi người kéo xe đẩy tới rồi đứng chống nạnh hỏi với giọng không mấy nhẹ nhàng:

-Này ông bán gì đấy?

Người bán hàng đon đả chào mời:

-À, Xôi hấp chú ạ. Xôi còn nóng giòn ngon lắm. Hai bố con ăn thử người một bịch nhé!

Nghe giọng nói nhỏ nhẹ hiền từ của ông cụ, bất giác tôi giật mình, chẳng dám hằn học nữa. Không có nhu cầu nhưng tôi đáp lại vẻ từ tốn hơn:

-À. Cụ cho tôi ba bịch.

Vừa móc túi lấy tiền trả, tôi vừa đưa mắt quan sát người đối diện. Đó là một ông già tuổi khoảng sáu mươi, da mặt nhăn nheo, đôi mắt mờ đục, thân hình gầy gò gói trong bộ áo quần rộng thùng thình không mấy lành lặn, bụng ngạc nhiên thầm nghĩ: "Ủa. Ông cụ người nhỏ thó sao tiếng rao nghe lớn vậy cà”?

-“Ông ơi! Đã già từng tuổi này sao còn lụm cụm đi bán chi cho khổ”? Ông cụ chưa kịp trả lời thì cậu con trai tôi lại hỏi tiếp: “Đã thế, không khi nào cháu thấy ông đi bán được sớm hơn một chút”? Giọng nói có vẻ thân thiện hòa nhã hơn.

Dường như cảm động bởi sự quan tâm của bố con tôi, ông già bán xôi đưa tay quệt mồ hôi, thủng thỉnh đáp:

-“Cám ơn chú đã có lời hỏi thăm”. Vừa loay hoay làm việc cụ vừa buồn buồn nói tiếp: “Tui đây cũng muốn nghỉ ngơi cho khỏe lắm chứ, nhưng mà nghỉ thì làm sao có đủ tiền đóng học phí cho hai đứa cháu nội. Cha mẹ chúng mất sớm nên tôi phải cố ráng một chút giúp cháu ăn học nên người, dẫu chết cũng cam chú ạ”!

Nghe vậy, cậu con út của tôi động lòng trắc ẩn nhưng không khỏi thắc mắc:

-Sao? Ông đi bán thế này để đóng tiền học phí cho cháu nội ư?

-“Phải đấy cháu ạ”. Sẵn vui miệng, ông lão thủ thỉ tâm sự: “Thực ra, cả ba ông cháu đều phải kiếm chuyện làm. Buổi tối, hai đứa kia tới quán hàng ăn bưng bê phục vụ khách, thêm chút thu nhập. Thằng anh đang học năm cuối bậc Trung học, còn đứa em thì đang học lớp 9. Sắp thi vào lớp 10, tốn kém lắm cháu ạ. Nó trạc tuổi cháu, học trường Trần Quốc Toản cũng gần đây thôi. Không chừng cháu quen biết nó cũng nên”.

-Dạ. Bạn ấy tên gì ạ!

-Quân. Nguyễn Trường Quân.

-Ô... Thì ra là Quân! Dạ… Bạn ấy cùng học một lớp với cháu đấy ạ!

Giọng nói nhỏ dần như có điều gì làm nó áy náy xúc động lắm.

-Cháu ăn xôi hấp đi kẻo nguội mất ngon.

Tiếng nhắc nhở trìu mến của ông lão bán xôi khiến nó sực tỉnh, lí nhí cảm ơn. Ông nhoẻn miệng cười “không có chi”, rồi loay hoay sắp xếp lại thùng hàng, sau đó tiếp tục bước đi. Tiếng rao của ông lại giòn dã vang lên: “Xôi hấp đây. Xôi hấp nóng giòn đây”.

Cũng là âm điệu cũ mèm nghe nhiều lần muốn nhàm lỗ tai, vậy mà sao hôm nay tự nhiên thấy ngọt ngào đến thế.

Tiếng xe đẩy kẽo kẹt xa dần, hai bố con bùi ngùi dõi theo bóng ông đến khi khuất hẳn mới bước vào nhà từ tốn mở gói xôi. Chẳng cần biết vị thơm ngon của xôi hấp là thế nào, chỉ biết rằng cái vị mặn mà, ấm áp đầy tình thương của ông cụ bán xôi dành cho con cháu không quản tuổi già làm cho tôi rưng rưng cảm động.

-Này sao con không ăn xôi đi?

Thằng bé đang trầm ngâm suy nghĩ mông lung như chợt tỉnh:

-Con hối hận lắm ba à! -Cu cậu rón rén bước tới gần tôi thủ thỉ: -Bạn con có biệt danh là Quân “gật” bởi hôm nào cậu ấy cũng ngủ gà ngủ gật suốt trong giờ học. Ba ơi! Thì ra bạn ấy có hoàn cảnh bi đát đến vậy. Tội cho Quân quá! Vậy mà nhiều lúc con còn về hùa với các bạn trêu đùa bỡn cợt bạn ấy, bạn ấy không có một lời ca thán trách hờn, chỉ biết ngồi im thủ phận.

Thấy vẻ ân hận hiện lên nét mặt thằng bé, tôi dịu dàng an ủi:

-Con biết vậy là tốt rồi, con đừng lo, sửa chữa lỗi lầm chẳng bao giờ là muộn cả. Con hãy cố chờ cơ hội chuộc lỗi với bạn í sau nhé… nhé!

Từ nhỏ nó vốn được sống trong cảnh sang giàu, được bố mẹ nuông chìu, dư ăn dư mặc, làm sao có thể ngờ bên cạnh mình còn có quá nhiều người sống cảnh đói nghèo cực khổ đến vậy.

Đêm hôm ấy trở về mà lòng tôi thế nào ấy, không sao chợp mắt được. “Ừ”. Sao bây giờ mình trở thành vô tâm và vô cảm đến vậy nhỉ? Đã quên hẳn những tháng ngày hàn vi “tay lấm chân bùn” ở xứ “đồng chua nước mặn” rồi sao? Bây giờ làm ăn nên nổi, có đồng ra đồng vào, nhưng dù đã tắm gội bao nhiêu lần bởi X-men hay Clear, kỳ lạ thay vết phèn trên móng chân vẫn không bao giờ xóa sạch. Nó luôn hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày qua những câu nói, những bữa cơm hay trong tiềm thức.

Bổng nhiên, tâm trí kéo tôi về miền ký ức, và từng mảnh, từng mảnh đời hiện ra như những thước phim chiếu chậm…

 Ngày ấy, chúng tôi là những học trò nghèo từ dưới quê lên tỉnh học.
Mùa thi đến, để trốn cái oi nồng của căn phòng trọ chật hẹp với chị chủ nhà khó tính, thường căn ke, càu nhàu vì sợ tốn điện, chúng tôi, ba đứa ở chung, mỗi tối phải rủ nhau đem sách vở ra ngoài đường, ôm trụ điện ngồi học.

Giữa khung cảnh trời thanh gió mát, bầu khí thoáng đãng, lại thêm mùi thơm của gương sen mùa hạ từ bờ hồ Tịnh Tâm hây hẩy đưa lại làm cho tâm hồn và đầu óc đứa nào cũng sảng khoái, bài vở dễ dàng được tiếp nạp, gom vào bộ nhớ.

Quả thực, so với điều kiện thời bấy giờ thì nơi này đúng là một “góc học tập” lý tưởng để chúng tôi ngốn ngấu bài vở chuẩn bị cho kỳ thi Tú tài sắp tới. Nhưng rồi một tối nọ ra đường muộn, bất chợt phát hiện cái góc lâu nay mình độc quyền kia đã bị một nhóm con gái ở đâu ngang nhiên tiếm dụng; mà nào phải tiếm dụng để học hành gì cơ chứ. Chỉ là để ngồi tán gẫu chuyện phiếm, cười đùa trững giỡn, rồi bày biện me-xoài-cam-ổi ra nhâm nhi như để trêu ngươi mấy cái bao tử thường xuyên thiếu chất... dinh dưỡng của chúng tôi.

Một tuần, rồi lại hai, ba tuần không học thêm được chữ nào. Mấy cô nàng kia thì ngày càng nghịch tinh, cười đùa lớn tiếng, quấy rầy mấy cái lỗ tai, khiến cho tâm trí chúng tôi không sao tập trung được.

Ngày thi càng tới gần, đứa nào cũng canh cánh nỗi lo, nếu tình trạng này kéo dài không khéo cơm cha áo mẹ chữ thầy rồi sẽ trôi sông xuống biển hết. Biện pháp tốt nhất là phải ra sớm chiếm lại chỗ học, nhưng khổ nỗi, bữa cơm nào, chị chủ nhà cũng dọn muộn nên đành chịu. Cả bọn đứng ngồi không yên, họp bàn suy nghĩ nát óc vẫn chưa tìm ra được phương cách nào thỏa đáng.

Thế rồi bỗng một hôm, Hùng Gà tồ phúc chí tâm linh từ đâu tới, đắc ý tuyên bố: “Ra rồi! Có cách rồi… Hà, hà”… Cả bọn mừng rỡ, xúm lại gặng hỏi, hắn cứ làm ra vẻ bí mật: “Để chờ xem... hồi sau sẽ biết”.

Tối hôm đó, hắn ta ra đường sớm, trên mình chỉ thắng độc chiếc quần xà lõn ngắn củn cỡn, còn áo may-ô thì lòng thòng vắt trên vai. Sau khi lượn lờ qua lại vài lượt trước mặt các cô gái, nhìn nhìn, ngắm ngăm một đỗi, hắn vươn vai làm mấy động tác hít thở cơ bản để gây sự chú ý rồi hét tướng: “Ô... Trời nóng quá! Phải tắm một cái cho đả mới được”. Chưa dứt lời, hắn phom phom tiến tới cái giếng nước bơm bằng tay cầm, cởi phăng chiếc áo may ô quăng xuống đất đánh bịch, rồi ra bộ như sắp cởi nốt chiếc quần đùi chuẩn bị... tắm truồng, khiến mấy nàng hốt hoảng ré lên, bụm mặt hè nhau chạy tuốt luốt.

Vậy là coi như sự việc bất chiến tự nhiên thành, cơ ngơi từ nay lại được trả về chủ cũ.

Kể ra, sau chuyện làm này, chúng tôi, đứa nào cũng lấy làm chút áy náy vì lối xử sự xem chừng không được đẹp đẽ và lịch sự cho lắm, nhưng nói cho cùng thì ai nấy cũng hoan hỉ (biết làm sao nhỉ)?! Kỳ thi Tú tài này đối với chúng tôi có tầm quan trọng biết bao. Nó như... như là tấm chứng chỉ đế bước vào đời ấy mà...



... Để lấy lại thời gian đã hao phí vừa qua, chúng tôi càng cố sức gạo bài. Mỗi buổi học càng về sau càng kéo dài lê thê hơn; ngoài lý do đổ đạt, còn một lý do thầm kín khác mà mỗi mỗi đứa trong bọn đều cố tình dấu trong tim, coi như nỗi niềm riêng tư không để cho ai biết, không cho ai hay.

Chả là đối diện bên kia đường có một ngôi biệt thự trông rất bề thế, đêm nào ánh đèn trên căn gác lửng cũng sáng đến khuya, chúng tôi đoán già đoán non ắt hẳn có một tiểu thư khuê các (nữ sinh trường Đồng Khánh chẳng hạn) cũng đang miệt mài học thi như mình! Vậy là vô hình chung đứa nào cũng ngấm ngầm tìm cách thể hiện để tự giới thiệu mình, ráng thức càng khuya càng tốt, đi qua đi lại dưới cửa sổ hàng trăm lượt, lẩm nhẩm học bài và mong cho nàng thấy để mà… thương, chấp nhận mối tình si của mình. Nhiều đêm hai mi mắt sụp lên sụp xuống, đầu gối như long ra từng mảnh muốn sụm bà chè, vậy nhưng vẫn cứ thất tha thất thểu lê bước, ráng chờ cho ánh đèn  của ai kia trên căn gác lửng tắt ngủm mới chịu thôi. Nhưng khổ một điều, càng khuya thì bụng càng thắc thỏm, đầu gối bủn rủn như không muốn bước, mi mắt sụp lên sụp xuống ngủ gà ngủ gật.

Một hôm, may thay đúng lúc cả bọn sắp sửa bỏ cuộc thì bất đồ có tiếng lóc cóc từ phía đầu cầu, rồi một bác Tàu già xuất hiện, lum khum đẩy chiếc xe phở về nhà; ngang qua chỗ chúng tôi, bác dừng lại, im lặng nhìn một lát rồi lui cui múc tô xúp rặt nước, cộng mấy cục xương còn dính vài rẻo thịt “chiêu đãi”. Từ đó như thành lệ khi thì nước xúp, khi thì mấy cục xương bò rõ to mà bác đã cẩn thận gói sẵn trong miếng lá chuối bỏ dưới hộc tủ để dành: “Cái lầy để biếu mấy nị gặm đỡ buồn ngủ. Học bài”. Thấy chúng tôi tỏ vẻ áy náy bởi ăn hoài không tiền trả, bác liền bảo:

-Không sao! Không sao! Ngộ thấy mấy cậu học “chò” nghèo chăm chỉ, thương “dắm”! Ráng kỳ này đổ cho được cái bằng Tú tài là tốt dzồi”.

Mấy cục xương tuy chỉ còn dính tí thịt nhưng được cái hầm rục béo ngậy, đem chấm vào tương ớt cắn nghe dòn rụm, nước tuỷ tươm ra ngọt lịm ngấm vào tận kẽ răng ngon hết biết.

Cũng nhờ cái món xíu quách cặn cọt sót đáy thùng phở đó mà ba chúng tôi có thêm chất dinh dưỡng bồi bỗ thể chất, nâng bước tinh thần, trụ bộ qua thời điễm khó khăn thiếu thốn để vươn lên nắm bắt cuộc sống...

... Mùa thi năm đó, cả ba chúng tôi đồng dắt tay nhau vượt vũ môn suông sẻ, và cùng bước chân vào trường Đại học...

Ngày tháng đi qua, rồi lại đi qua; bây giờ tôi cũng tạm được coi như là người gặt hái được chút thành đạt và có một vị trí nhất định trong cuộc sống. Tôi cũng đã được dịp đi đây đi đó thăm thú nhiều nơi và đã từng thưởng thức nhiều món sơn hào hải vị, những đặc sản độc đáo thơm ngon khắp các vùng miền, nhưng sao vẫn chưa bao giờ cảm thấy món nào tuyệt ngon và ngọt ngào như những cục xương bò hầm rục gói trong lá chuối của bác Tàu già giàu lòng nhân ái thời học sinh ngổ ngáo ôm trụ điện học thi ngày nào...

Ôi! Bát cơm phiếu mẫu.


      

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét