Tạp bút - Nguyên Đạt
-Xôi
hấp… Xôi hấp nóng giòn đây.
"Rõ
khổ"! Tiếng rao ấy lại cất lên! Giữa đêm khuya thanh vắng, tiếng rao nghe
rõ mồn một cứ như muốn chọc vào tai, dựng đầu người ta dậy; có lúc tôi mặc kệ
nhưng cũng lắm lúc thật bực mình vì mới chợp mắt thiu thỉu một tí thì lại phải
thức giấc, dỗ hoài cũng không tiếp tục ngủ lại được.
Lần
này thì mình không thể chịu đựng nữa, phải làm gì đó để chấm dứt ngay mới được.
Tôi thầm nhủ.
Sau
một hồi suy đi nghĩ lại, bèn nảy ra ý định lát nữa sẽ gặp cái nhà bác ấy, hỏi
xem sao đi bán trễ làm phiền giấc ngủ của bà con vậy? Tiện thể, chỉnh cho ông
ấy một trận để không còn tái diễn nữa.
Nghĩ
xong là làm ngay, tôi lục túi, thủ sẵn mấy ngàn lẻ rồi lập tức bước xuống nhà,
cậu con út đang ngồi học bài thi cũng lập tức đứng dậy xách dép le te chạy
theo. Đến trước cổng, tôi lấy hết gân cốt đẩy mạnh hai cánh cửa sắt nặng nề kêu
đánh "két" chờ đợi. Tiếng rao vọng lại mỗi lúc một lớn dần. A đây
rồi, cái người khiến ta bực mình không ít.
Chiếc
xe vừa ló dạng là tôi lập tức bước hẳn ra, hách dịch gọi người kéo xe đẩy tới
rồi đứng chống nạnh hỏi với giọng không mấy nhẹ nhàng:
-Này
ông bán gì đấy?
Người
bán hàng đon đả chào mời:
-À,
Xôi hấp chú ạ. Xôi còn nóng giòn ngon lắm. Hai bố con ăn thử người một bịch
nhé!
Nghe
giọng nói nhỏ nhẹ hiền từ của ông cụ, bất giác tôi giật mình, chẳng dám hằn học
nữa. Không có nhu cầu nhưng tôi đáp lại vẻ từ tốn hơn:
-À.
Cụ cho tôi ba bịch.
Vừa
móc túi lấy tiền trả, tôi vừa đưa mắt quan sát người đối diện. Đó là một ông
già tuổi khoảng sáu mươi, da mặt nhăn nheo, đôi mắt mờ đục, thân hình gầy gò
gói trong bộ áo quần rộng thùng thình không mấy lành lặn, bụng ngạc nhiên thầm
nghĩ: "Ủa. Ông cụ người nhỏ thó sao tiếng rao nghe lớn vậy cà”?
-“Ông
ơi! Đã già từng tuổi này sao còn lụm cụm đi bán chi cho khổ”? Ông cụ chưa kịp
trả lời thì cậu con trai tôi lại hỏi tiếp: “Đã thế, không khi nào cháu thấy ông
đi bán được sớm hơn một chút”? Giọng nói có vẻ thân thiện hòa nhã hơn.
Dường
như cảm động bởi sự quan tâm của bố con tôi, ông già bán xôi đưa tay quệt mồ
hôi, thủng thỉnh đáp:
-“Cám
ơn chú đã có lời hỏi thăm”. Vừa loay hoay làm việc cụ vừa buồn buồn nói tiếp:
“Tui đây cũng muốn nghỉ ngơi cho khỏe lắm chứ, nhưng mà nghỉ thì làm sao có đủ
tiền đóng học phí cho hai đứa cháu nội. Cha mẹ chúng mất sớm nên tôi phải cố
ráng một chút giúp cháu ăn học nên người, dẫu chết cũng cam chú ạ”!
Nghe
vậy, cậu con út của tôi động lòng trắc ẩn nhưng không khỏi thắc mắc:
-Sao?
Ông đi bán thế này để đóng tiền học phí cho cháu nội ư?
-“Phải
đấy cháu ạ”. Sẵn vui miệng, ông lão thủ thỉ tâm sự: “Thực ra, cả ba ông cháu đều
phải kiếm chuyện làm. Buổi tối, hai đứa kia tới quán hàng ăn bưng bê phục vụ
khách, thêm chút thu nhập. Thằng anh đang học năm cuối bậc Trung học, còn đứa
em thì đang học lớp 9. Sắp thi vào lớp 10, tốn kém lắm cháu ạ. Nó trạc tuổi
cháu, học trường Trần Quốc Toản cũng gần đây thôi. Không chừng cháu quen biết
nó cũng nên”.
-Dạ.
Bạn ấy tên gì ạ!
-Quân.
Nguyễn Trường Quân.
-Ô...
Thì ra là Quân! Dạ… Bạn ấy cùng học một lớp với cháu đấy ạ!
Giọng
nói nhỏ dần như có điều gì làm nó áy náy xúc động lắm.
-Cháu
ăn xôi hấp đi kẻo nguội mất ngon.
Tiếng
nhắc nhở trìu mến của ông lão bán xôi khiến nó sực tỉnh, lí nhí cảm ơn. Ông nhoẻn
miệng cười “không có chi”, rồi loay hoay sắp xếp lại thùng hàng, sau đó tiếp tục
bước đi. Tiếng rao của ông lại giòn dã vang lên: “Xôi hấp đây. Xôi hấp nóng
giòn đây”.
Cũng
là âm điệu cũ mèm nghe nhiều lần muốn nhàm lỗ tai, vậy mà sao hôm nay tự nhiên
thấy ngọt ngào đến thế.
Tiếng
xe đẩy kẽo kẹt xa dần, hai bố con bùi ngùi dõi theo bóng ông đến khi khuất hẳn
mới bước vào nhà từ tốn mở gói xôi. Chẳng cần biết vị thơm ngon của xôi hấp là
thế nào, chỉ biết rằng cái vị mặn mà, ấm áp đầy tình thương của ông cụ bán xôi
dành cho con cháu không quản tuổi già làm cho tôi rưng rưng cảm động.
-Này
sao con không ăn xôi đi?
Thằng
bé đang trầm ngâm suy nghĩ mông lung như chợt tỉnh:
-Con
hối hận lắm ba à! -Cu cậu rón rén
bước tới gần tôi thủ thỉ: -Bạn con có biệt danh là Quân “gật” bởi hôm nào cậu
ấy cũng ngủ gà ngủ gật suốt trong giờ học. Ba ơi! Thì ra bạn ấy có hoàn cảnh bi
đát đến vậy. Tội cho Quân quá! Vậy mà nhiều lúc con còn về hùa với các bạn trêu
đùa bỡn cợt bạn ấy, bạn ấy không có một lời ca thán trách hờn, chỉ biết ngồi im
thủ phận.
Thấy
vẻ ân hận hiện lên nét mặt thằng bé, tôi dịu dàng an ủi:
-Con
biết vậy là tốt rồi, con đừng lo, sửa chữa lỗi lầm chẳng bao giờ là muộn cả. Con
hãy cố chờ cơ hội chuộc lỗi với bạn í sau nhé… nhé!
Từ
nhỏ nó vốn được sống trong cảnh sang
giàu, được bố mẹ nuông chìu, dư ăn dư mặc, làm sao có thể ngờ bên cạnh mình còn
có quá nhiều người sống cảnh đói nghèo cực khổ đến vậy.
Đêm
hôm ấy trở về mà lòng tôi thế nào ấy, không sao chợp mắt được. “Ừ”. Sao bây giờ
mình trở thành vô tâm và vô cảm đến vậy nhỉ? Đã quên hẳn những tháng ngày hàn
vi “tay lấm chân bùn” ở xứ “đồng chua nước mặn” rồi sao? Bây giờ làm ăn nên nổi,
có đồng ra đồng vào, nhưng dù
đã tắm gội bao nhiêu lần bởi X-men hay Clear, kỳ lạ thay vết phèn trên móng
chân vẫn không bao giờ xóa sạch. Nó luôn hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày qua
những câu nói, những bữa cơm hay trong tiềm thức.
Bổng
nhiên, tâm trí kéo tôi về miền ký ức, và từng mảnh, từng mảnh đời hiện ra như
những thước phim chiếu chậm…
Ngày ấy, chúng tôi là những
học trò nghèo từ dưới quê lên tỉnh học.
Mùa thi đến, để trốn cái oi nồng
của căn phòng trọ chật hẹp với chị chủ nhà khó tính, thường căn ke, càu nhàu vì
sợ tốn điện, chúng tôi, ba đứa ở chung, mỗi tối phải rủ nhau đem sách vở ra
ngoài đường, ôm trụ điện ngồi học.
Giữa khung cảnh trời thanh gió
mát, bầu khí thoáng đãng, lại thêm mùi thơm của gương sen mùa hạ từ bờ hồ Tịnh
Tâm hây hẩy đưa lại làm cho tâm hồn và đầu óc đứa nào cũng sảng khoái, bài vở
dễ dàng được tiếp nạp, gom vào bộ nhớ.
Quả thực, so với điều kiện thời
bấy giờ thì nơi này đúng là một “góc học tập” lý tưởng để chúng tôi ngốn ngấu
bài vở chuẩn bị cho kỳ thi Tú tài sắp tới. Nhưng rồi một tối nọ ra đường muộn,
bất chợt phát hiện cái góc lâu nay mình độc quyền kia đã bị một nhóm con gái ở
đâu ngang nhiên tiếm dụng; mà nào phải tiếm dụng để học hành gì cơ chứ. Chỉ là
để ngồi tán gẫu chuyện phiếm, cười đùa trững giỡn, rồi bày biện me-xoài-cam-ổi
ra nhâm nhi như để trêu ngươi mấy cái bao tử thường xuyên thiếu chất... dinh
dưỡng của chúng tôi.
Một tuần, rồi lại hai, ba tuần
không học thêm được chữ nào. Mấy cô nàng kia thì ngày càng nghịch tinh, cười
đùa lớn tiếng, quấy rầy mấy cái lỗ tai, khiến cho tâm trí chúng tôi không sao
tập trung được.
Ngày thi càng tới gần, đứa nào
cũng canh cánh nỗi lo, nếu tình trạng này kéo dài không khéo cơm cha áo mẹ chữ
thầy rồi sẽ trôi sông xuống biển hết. Biện pháp tốt nhất là phải ra sớm chiếm
lại chỗ học, nhưng khổ nỗi, bữa cơm nào, chị chủ nhà cũng dọn muộn nên đành
chịu. Cả bọn đứng ngồi không yên, họp bàn suy nghĩ nát óc vẫn chưa tìm ra được
phương cách nào thỏa đáng.
Thế rồi bỗng một hôm, Hùng Gà tồ
phúc chí tâm linh từ đâu tới, đắc ý tuyên bố: “Ra rồi! Có cách rồi… Hà, hà”… Cả
bọn mừng rỡ, xúm lại gặng hỏi, hắn cứ làm ra vẻ bí mật: “Để chờ xem... hồi sau
sẽ biết”.
Tối hôm đó,
hắn ta ra đường sớm, trên mình chỉ thắng độc chiếc quần xà lõn ngắn củn cỡn,
còn áo may-ô thì lòng thòng vắt trên vai. Sau khi lượn lờ qua lại vài lượt
trước mặt các cô gái, nhìn nhìn, ngắm ngăm một đỗi, hắn vươn vai làm mấy động
tác hít thở cơ bản để gây sự chú ý rồi hét tướng: “Ô... Trời nóng quá! Phải tắm
một cái cho đả mới được”. Chưa dứt lời, hắn phom phom tiến tới cái giếng nước
bơm bằng tay cầm, cởi phăng chiếc áo may ô quăng xuống đất đánh bịch, rồi ra bộ
như sắp cởi nốt chiếc quần đùi chuẩn bị... tắm truồng, khiến mấy nàng hốt hoảng
ré lên, bụm mặt hè nhau chạy tuốt luốt.
Vậy là coi như
sự việc bất chiến tự nhiên thành, cơ ngơi từ nay lại được trả về chủ cũ.
Kể ra, sau
chuyện làm này, chúng tôi, đứa nào cũng lấy làm chút áy náy vì lối xử sự xem
chừng không được đẹp đẽ và lịch sự cho lắm, nhưng nói cho cùng thì ai nấy cũng
hoan hỉ (biết làm sao nhỉ)?! Kỳ thi Tú tài này đối với chúng tôi có tầm quan
trọng biết bao. Nó như... như là tấm chứng chỉ đế bước vào đời ấy mà...
... Để lấy lại thời gian đã hao
phí vừa qua, chúng tôi càng cố sức gạo bài. Mỗi buổi học càng về sau càng kéo
dài lê thê hơn; ngoài lý do đổ đạt, còn một lý do thầm kín khác mà mỗi mỗi đứa
trong bọn đều cố tình dấu trong tim, coi như nỗi niềm riêng tư không để cho ai
biết, không cho ai hay.
Chả là đối diện bên kia đường có
một ngôi biệt thự trông rất bề thế, đêm nào ánh đèn trên căn gác lửng cũng sáng
đến khuya, chúng tôi đoán già đoán non ắt hẳn có một tiểu thư khuê các (nữ sinh
trường Đồng Khánh chẳng hạn) cũng đang miệt mài học thi như mình! Vậy là vô
hình chung đứa nào cũng ngấm ngầm tìm cách thể hiện để tự giới thiệu mình, ráng
thức càng khuya càng tốt, đi qua đi lại dưới cửa sổ hàng trăm lượt, lẩm nhẩm
học bài và mong cho nàng thấy để mà… thương, chấp nhận mối tình si của mình.
Nhiều đêm hai mi mắt sụp lên sụp xuống, đầu gối như long ra từng mảnh muốn sụm
bà chè, vậy nhưng vẫn cứ thất tha thất thểu lê bước, ráng chờ cho ánh đèn của ai kia trên căn gác lửng tắt ngủm mới
chịu thôi. Nhưng khổ một điều, càng khuya thì bụng càng thắc thỏm, đầu gối bủn
rủn như không muốn bước, mi mắt sụp lên sụp xuống ngủ gà ngủ gật.
Một hôm, may thay đúng lúc cả bọn
sắp sửa bỏ cuộc thì bất đồ có tiếng lóc cóc từ phía đầu cầu, rồi một bác Tàu
già xuất hiện, lum khum đẩy chiếc xe phở về nhà; ngang qua chỗ chúng tôi, bác
dừng lại, im lặng nhìn một lát rồi lui cui múc tô xúp rặt nước, cộng mấy cục
xương còn dính vài rẻo thịt “chiêu đãi”. Từ đó như thành lệ khi thì nước xúp,
khi thì mấy cục xương bò rõ to mà bác đã cẩn thận gói sẵn trong miếng lá chuối
bỏ dưới hộc tủ để dành: “Cái lầy để biếu mấy nị gặm đỡ buồn ngủ. Học bài”. Thấy
chúng tôi tỏ vẻ áy náy bởi ăn hoài không tiền trả, bác liền bảo:
-Không sao! Không sao! Ngộ thấy
mấy cậu học “chò” nghèo chăm chỉ, thương “dắm”! Ráng kỳ này đổ cho được cái
bằng Tú tài là tốt dzồi”.
Mấy cục xương tuy chỉ còn dính tí
thịt nhưng được cái hầm rục béo ngậy, đem chấm vào tương ớt cắn nghe dòn rụm,
nước tuỷ tươm ra ngọt lịm ngấm vào tận kẽ răng ngon hết biết.
Cũng nhờ cái món xíu quách cặn
cọt sót đáy thùng phở đó mà ba chúng tôi có thêm chất dinh dưỡng bồi bỗ thể
chất, nâng bước tinh thần, trụ bộ qua thời điễm khó khăn thiếu thốn để vươn lên
nắm bắt cuộc sống...
...
Mùa thi năm đó, cả ba chúng tôi đồng dắt tay nhau vượt vũ môn suông sẻ, và cùng
bước chân vào trường Đại học...
Ngày
tháng đi qua, rồi lại đi qua; bây giờ tôi cũng tạm được coi như là người gặt
hái được chút thành đạt và có một vị trí nhất định trong cuộc sống. Tôi cũng đã
được dịp đi đây đi đó thăm thú nhiều nơi và đã từng thưởng thức nhiều món sơn
hào hải vị, những đặc sản độc đáo thơm ngon khắp các vùng miền, nhưng sao vẫn
chưa bao giờ cảm thấy món nào tuyệt ngon và ngọt ngào như những cục xương bò
hầm rục gói trong lá chuối của bác Tàu già giàu lòng nhân ái thời học sinh ngổ
ngáo ôm trụ điện học thi ngày nào...
Ôi!
Bát cơm phiếu mẫu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét