Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

NGÀY HỘI ĐỒNG MÔN

Những Lời Tâm Cảm - Phạm Châu



Mặc dù bận bịu với công việc nhưng tôi cũng cố gắng sắp xếp thời gian đi dự cuộc họp mặt Cựu Giáo sinh SPQN để không phải là "Trái tim bên lề". Và dù sao SPQN cũng là "ruột thịt", cũng là nơi "chôn nhau cắt rốn" với bao nhiêu kỷ niệm êm đềm của một thời tuổi trẻ...
Tuy không có bạn cũ trong dịp nầy nhưng tôi vẫn cảm thấy vui và cảm động khi nhìn lại những hình ảnh sinh hoạt hôm nay. Tôi cứ tưởng cái "HALL" dùng làm ngày Tất Niên hôm nay là Hội Trường SPQN với những đêm Văn Nghệ năm nào. Ca sĩ SPQN tuy không còn "áo trắng sân trường" nhưng hát còn khỏe lắm không kém gì ca sĩ Pro của các Trung Tâm. Anh Nguyên Đạt, guitarist, hao hao giống Trịnh Công Sơn. Đặc biệt là là ban hợp ca với những tà áo dài truyền thống VN đầy màu sắc tươi trẻ đã làm "sáng" sân khấu. Áo dài VN lợi hại thật, nó đã "enhance" cái nét duyên dáng của người phụ nữ VN bất kỳ lứa tuổi nào. Hãy tưởng tượng quí Chị mặc quần Jean lên sân khấu thì sẽ như thế nào, chắc chắn không thể nào đẹp như những tà áo dài màu hồng hôm nay.




Nhìn lại hình ảnh chúng ta xếp hàng đi lấy thức ăn cũng làm tôi nhớ cảnh Nhà Ăn Trường SPNQ (Hội Trường) năm nào. Nay còn đâu!?!
Hôm nay tôi cũng vui là gặp lại Thầy Ba, sự hiện diện của Thầy Ba cũng gợi lại hình ảnh các Thầy khác không có mặt hôm nay: Thầy Hiệu trưởng Trần Văn Mẫn, Thầy Nở, Thầy Hy, Thầy Đoàn Nhật Tấn... Giờ nầy Thầy ở đâu? Sài Gòn, Qui Nhơn, Mỹ, Úc, Pháp hay Miền Đông Hoa Kỳ? Chúng em vẫn nhớ quí Thầy.
Dịp kỷ niệm 50 năm SPQN vào tháng 6/2012 sắp tới sẽ là ngày đầy ý nghĩa của tất cả chúng ta, và tôi cũng hy vọng đây sẽ là cơ hội để chúng ta gặp lại được nhiều Thầy Cô và bạn bè cũ, đặc biệt là Thầy Hiêụ trưởng Trần Văn Mẫn. Nhân đây cũng xin kể câu chuyện "Tìm lại Thầy cũ". Năm 1966, sau khi đỗ vào Đệ Thất trường Trung học Trần Quốc Tuấn QN, tôi học Anh Văn với một thầy giáo người Mỹ tên là David Juracek. Thầy David là một sinh viên Thiện Chí dạy Anh Văn cho trường TQT. Trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, tôi nghĩ rằng Thầy David sẽ chỉ là hình ảnh của kỷ niệm, và sẽ không bao giờ có thể tìm lại được người Thầy Mỹ trên cõi đời nầy nữa. Nhưng may mắn Trời quả không phụ lòng người. Tôi đã search trên Internet 3 năm trời. Một ngày đẹp trời, chính người Chú ruột, cũng là giáo sư Anh Văn dạy cùng trường với Thầy David đã mách nước bằng cách cho những số phone làm "reference number" để hỏi thăm tin tức. Và cuối cùng tôi đã tìm ra "tung tích" của Thầy tận Minesota. Trời ơi! Giấc mơ của tôi đã thành sự thật. Nhân ngày Họp Mặt LIÊN TRƯỜNG, tôi đã mua một package gồm vé bay và khách sạn và mời Thầy về San Jose tham dự ngày Họp Mặt LT. Sự hiện diện "bằng xương bằng thịt" của Thầy David trong đêm Hội Ngộ đã làm Thầy Cô và học trò cũ sững sốt ngạc nhiên, lòng thấy rưng rưng...
Sau đó biết bao Thầy Cô và học trò cũ đã liên lạc thăm hỏi Thầy như người thân yêu sau bao năm xa cách. Còn Thầy Mẫn thì sao? Sau chừng ấy năm, Thầy còn nhớ chúng Em không?!?
Cảm ơn BTC cũng như quí Anh Chị đã cho tôi cơ hội may mắn được trở lại những ngày tháng cũ của SPQN với bao nhiêu kỷ niệm chưa quên... Chúc tất cả quí Anh Chị một cuối tuần bình yên vui vẻ bên gia đình và người thân yêu


Tháng 12/ 2011
Châu Phạm

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2011

XUÂN MÙA LƯU XỨ

Mẹ ơi xuân lại đến rồi
Mà con thì vẫn phương trời ngái xa
Đáu đau ánh mắt quê nhà
Đường chiều rủ lá-cánh hoa lịm buồn

Chơi vơi nỗi nhớ niềm thương
Gọi miền ký ức để vương vấn lòng
Quê người chừ đã tàn đông
Bốn bề tuyết phủ núi rừng thê lương

Cảnh đời lưu xứ tha phương
Tết về càng thấy cô đơn muộn phiền
Đêm hằng mơ chuyện đoàn viên
Gom vào giấc ngủ cô miên hao gầy

Dẫu trong cuộc sống đủ đầy
Làm sao quên được tháng ngày hàn vi
Xác thân dầu đã ra đi
Tâm hồn vẫn mãi khắc ghi ơn đời

Mẹ ơi xuân lại đến rồi
Mà con thì vẫn phương trời ngái xa
Đáu đau ánh mắt quê nhà
Chiều nghiêng rủ lá-cánh hoa niệm buồn


Nguyên Đạt

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

THÁNG NGÀY QUA

Tản mạn – Nguyên Tịnh K3

Ai đó đã nói: “Bao nhiêu nắng để làm khô một dòng sông, bao nhiêu mưa để cuốn trôi một sa mạc và bao nhiêu đêm để giết chết một nỗi nhớ”… Càng về già hắn càng ưa nhớ về những ngày tháng cũ để rồi ngậm ngùi tiếc nuối, có lúc ân hận xót xa vì đã không sống trọn vẹn hết mình vào lúc đó. Trong cuộc đời hắn đã sống như một chiếc bách giữa dòng lênh đênh không biết trôi giạt về đâu, tất cả để định mệnh đưa đẩy.
Năm đó, khoảng 1963-1964 hắn đang học dở dang năm dự bị của đại học Văn khoa Huế thì thấy chán nản vì không theo kịp. Ai đời đổ tú tài toán mà không vào Khoa học lại đi Văn khoa. Thời đó có được mảnh bằng tú tài 2 là oai lắm. Đối với hắn, vì thiếu sự dẫn dắt của gia đình, hắn cảm thấy bơ vơ trước ngả ba đời. Muốn tiến thân trên con đường hoạn lộ thì phải học lấy cử nhân của một trong ba ngành: Khoa học, Văn khoa hoặc Luật. Cầm mảnh bằng trong tay hắn không biết đường nào để đi. Thi vào các trường Quốc gia Hành chánh hoặc Phú Thọ thì quá khó và hắn đã rớt lia chia rồi, không dám thi lại nữa. Vào quân đội thì hắn thấy xa lạ và uổng phí cho cái bằng tú tài 2 của mình vì nếu muốn đi lính thì với bằng “diplome” đổ từ 1959 hắn đã có thể nhảy vào Sĩ quan Thủ Đức từ lâu rồi. Vào Sĩ quan Đà Lạt thì sợ không đủ thước tất vì hắn cao không quá 1 mét 55. Khi ghi danh học Văn khoa hắn còn nhớ rành rọt trong buổi họp mặt lớp dự bị đầu niên khóa 1963-1964. Giáo sư khoa trưởng hướng dẫn sinh viên các đại cương về ban ngành của khoa đồng thời nói rỏ về chương trình của lớp dự bị, sau đó là buổi hỏi đáp dành cho SV, hắn dơ tay hỏi khoa trưởng: “Thưa thầy trong quá trình VK có ai học ban B mà lại ghi danh học VK và đổ dự bị năm đầu được không”? Ông trả lời một câu xanh dờn: “Tôi chưa bao giờ thấy”!! Thật là một cú đấm vào mặt làm hắn xâm xoàng và tê liệt hết một nửa ý chí. Thế mà chưa thấm tháp gì, khi vào lớp dự bị học giờ “culturel Francaise” của một giáo sư Pháp tên là Beaulie hay gì đó mà lâu quá hắn không nhớ nỗi. Ông ta bước vào lớp xong, là ngồi xuống ôm micro nói như sanh như sứa hắn ghi không kịp bởi không hiểu gì cả. Đến giờ Grammaire, lại cũng một giáo sư người Pháp nữa, trẻ ,đẹp trai trông không khác gì tài tử Alain Delon, ông giảng uOI ou Non, kéo dài cả 3 tháng trời, hắn không hiểu nội dung bài học của ông là gì. Rồi đến giờ Văn chương VN do một giáo sư VN tên Lê Tuyên giảng dạy, ông có dáng dấp của một nghệ sĩ thứ thiệt, lại cũng như hai ông trên, vào lớp là ôm micro và nói thao thao bất tuyệt. Ngang đây hắn thấy mình thật sự thấm thuốc và đã… lạc đường vào lịch sử.
Nửa năm sau đó hắn bỏ học, thi vào trường Sư Phạm Qui Nhơn, trúng tuyển, hắn lên đường đi làm sự nghiệp. Giã từ trường đại học VK với nỗi niềm ngậm ngùi cho thân phận mình. Thời đó không biết làm sao mà triết lý của Jean Paul Satre ăn sâu vào đám sinh viên như hắn thật đậm, nhìn đâu cững thấy phi lý, nôn mữa. Có lẽ cũng đúng trong bối cảnh lịch sử lúc đó: Chế độ ông Diệm đổ, Mỹ đổ quân, chiến sự trở nên ác liệt, bạn bè có đứa chết trận có đứa thương tật. Mọi giá trị xã hội bị đảo lộn khi lính Mỹ hiện diện. Trong cơn lốc xoáy đó hắn quay về triết lý hiện sinh của Satre, của Albert Camus. Khi vào Sư Phạm Qui Nhơn hắn phát giác thêm một điều là hắn đã lầm đường trong viêc chọn sự nghiệp. Hắn nghĩ với sức học của hắn, tầm vóc kiến thức của hắn, hắn phải là một giáo sư trung học. Ai đời ở đây chỉ dạy để làm giáo viên tiểu học. Đầu óc nổi loạn của hắn sẵn dịp vùng dậy, hắn không còn thích thú gì các giờ dạy của trường Sư Phạm nữa, hắn tìm mọi cách để vắng lớp. May quá hồi đó Tôn Thất Lập học cùng lớp là trưởng ban văn nghệ khóa 3 Sư Phạm Qui Nhơn, hắn ghi danh vào ban Văn nghệ của bạn. Cứ mỗi lần điểm danh là lớp trưởng bảo đi tập văn nghệ, mà văn nghệ cái khỉ khô gì, hắn chỉ hát bè cho một bài hợp ca nào đó của Phạm đình Chương. Cho đến bây giờ hắn còn nhớ mấy câu “Ô… ô… ô… ồ… ô… ồ… ộ… ộ”… thế là lọt sổ được vài tháng khỏi học.
Trong những giờ học ở SP hắn thích nhất là môn Pháp văn. Hắn nhớ đăng ký lên lớp thuyết trình cuốn “Bonjour Tritesse” của Francois Sagan. Hắn không nhớ đã soạn những gì và nói những gì nhưng thời đó, đọc cuốn này hắn cũng hiểu được ba phần tư vì Sagan cũng là một môn đệ của trường phái Existencialism và hắn thì rất khoái thuyết hiện sinh chủ nghĩa nầy. Thật là điếc không sợ súng và múa rìu qua mắt thợ. Có lẽ khi thuyết trình hắn nắm chặt cái chân lý là tụi bạn cùng lớp là những củ khoai với lại tụi đó đã học Văn khoa như hắn đâu! Khổ nỗi là kỳ thi lục cá nguyệt năm đó điểm Pháp văn của hắn không được đứng nhất như hắn tưởng mà là thứ mấy mươi. Thật bỉ mặt với bạn bè!
Cái ngông vẫn còn đeo riết theo hắn. Tết năm đó khoảng 1965, bạn bè cùng lớp lục tục giã từ Qui Nhơn về quê ăn tết thì hắn cùng một thằng bạn tên Hồ Đăng Kế rủ nhau lên Đà Lạt ăn tết. Tội nghiệp, với số tiền gia đình ở Huế gởi vào cho để hắn mua vé xe tàu về quê cộng với tiền học bổng và vay mượn bạn bè thêm một ít hắn mới tạm thấy ấm túi để làm một chuyến phiêu bồng lãng du. Hai đứa ghé Nha Trang trước, hắn không nhớ đã đi bằng phương tiện nào, chỉ nhớ ở lại nhà thằng bạn cùng lớp vài ngày sau đó mua vé xe đò đi Đà Lạt.
Đà Lạt là niềm mơ ước không cùng của hắn. Hắn nhớ những cảnh lãng đãng sương mờ của Đà Lạt qua tác phẩm “Vòng tay học trò” của Nguyễn thị Hoàng. Mối tình thơ mộng của gã học trò với cô giáo. Thời đó hắn cũng mang một mối tình thắm thiết, mối tình đó mà đắm mình trong khung cảnh Đà Lạt thì thật là thơ mộng cùng mình. Đặt chân lên Đà Lạt lần đầu hắn tưởng mình như đang ở một khung trời nào khác: mưa lay bay, trời mờ sương, hoa anh đào nở đỏ rực cả một khung trời, nhìn đâu đâu cũng thấy hoa, hoa trong sân vườn nhà ai, hoa dọc hai bên đường lên dốc và nhất là hoa trong chợ Tết, ngàn hoa khoe sắc trong không khí lành lạnh của trời xuân đẹp không thể tả nổi. Còn con gái Đà lạt thì cô nào má cũng ửng hồng và ăn mặc như Tây. Hắn nhớ những khung cảnh của vùng quê ở Pháp mà hắn từng xem đâu đó trong phim… Hắn thầm hát bài “Ai lên xứ hoa Đào” và “Những bước chân âm thầm” để thẩm thấu nét lãng mạng của khung cảnh. Ngày hí hững tươi vui trên vùng đất mới mở ra trước mắt hắn đầy hứa hẹn hoan ca. Hắn nhớ cùng bạn vất xách ở chung cư dành cho sinh viên scien-po đi dạo phố ngắm cảnh Đà Lạt. Niềm vui chưa trọn vẹn thì tối đó một sự cố xảy ra, sau khi tắm rửa rủ sạch bụi đường xa, rờ vào túi hắn ngả ngữa là cả đống tiền đem theo bay mất, chỉ còn vài chục đồng mà kẻ vô hậu cố tình để lại. Hắn biết chắc mẩm là tụi sinh viên còn ở lại của cư xá cuỗm của hắn chứ không ai khác. Phòng trọ mấy chục mạng nay chỉ còn vài mống, nhìn quanh chẳng còn thấy mống nào, mình là kẻ ở nhờ biết ai đây mà soát xét. Sau khi hỏi thằng bạn đi cùng xem có còn tiền để ở lại Đà Lạt không thì được biết nó không có gì cả, tất cả chỉ trông cậy vào hắn. Thế là hai đứa bàn với nhau là phải giã từ Đà lạt sớm vì không có ai ở đây để nhờ vã vay mượn. Dốc hết túi tiền còn lại của hai đứa chỉ đủ mua được hai vé xe đò về Nha Trang. Phải về Nha Trang cái đã vì ở đó có bạn bè cùng lớp, dầu gì cũng ăn được bữa cơm miển phí. Trên đường đi, quá đói vì trời lạnh vì chẳng ăn gì từ lúc xe khởi hành, hai đứa lén ra sau vườn hái trộm một trái đu đủ còn xanh gọt vỏ ăn lót dạ. Về Nha Trang thì trời đã tối, hai đứa tan hàng, mỗi đứa lo kiếm một cách để tồn tại mà về lại Qui Nhơn. Hắn không nhớ khi đó mồng mấy Tết, chỉ nhớ mang máng ghé nhà thằng này thằng nọ để tá túc hoặc mượn tiền nhưng hình như không được bao nhiêu. Hắn chợt nảy một ý kiến: hay ghé lại nhà một người bà con, cùng quê, cùng dòng họ. Hắn đứng lớ ngớ trước một villa to tướng bấm chuông, vào nhà hắn thấy nhục nhã quá nên không mở miệng mượn tiền mà chỉ bảo là ghé thăm hai bác cùng anh chị xong kiếu từ ra về. Hắn không nhớ thằng bạn cù rủ hắn đi phiêu lưu giờ đó ở đâu. Sau này nghe nó nói lại là mượn được tiền và mua vé máy bay về lại Qui Nhơn sau khi đọng lại Nha Trang 3,4 ngày. Còn hắn tứ cố vô thân, cuối cùng nhờ bạn bè chỉ dẫn, nghe đâu có tàu của hải quân VN chở Giáo sinh ở NT về QN vì đường bộ bị đắp mô gài mìn không đi được. Hắn theo bạn lên tàu, khổ một nỗi là không đi cùng tụi nó để có cái ăn hoặc lân la với thủy thủ để xin ngủ dưới hầm tàu, hắn chui một góc trên boong nằm nhìn trời đất mênh mông. Khi tàu ra khơi phần vì lạnh phần đói hắn như một con mèo ướt nằm bẹp dí một góc trên boong không ai ngó ngàng tới, hắn ói, mữa ra mật xanh mật vàng lăn lộn theo từng con sóng không biết mấy ngày mới tới QN, rồi hắn cũng không biết làm sao mà lên được bờ để về phòng trọ chỉ biết sau đó hắn ốm một trận thập tử nhất sinh cả tháng trời mới đi học lại được. Viết đến đây hắn mới thấy trách thằng bạn cùng lớp sao nỡ vô tình hỡi ai đã xúi dại hắn làm một chuyến phiêu lưu đau khổ như vậy, Xuân đâu không thấy chỉ thấy một cái Tết đói rách tả tơi, thân tàn ma dại. Một điều lạ là gặp nhau sau này gã vẫn tỉnh bơ không một chút gì thương xót cho thằng bạn khốn khổ năm nào. Đầu năm đó sau cái Tết cay đắng hắn mới viết thư về nhà nói láo là bịnh quá không về quê ăn Tết cùng gia đình được. Bố mẹ hắn vội vã gởi thêm tiền vào cho để chữa bệnh. Thật tội lỗi hết chỗ nói. Cái phiêu bồng của hắn phát sinh từ óc nổi loạn cùng phản kháng của tuổi trẻ. Hắn nuốn chứng minh cho gia đình thấy hắn đã trưởng thành, không còn theo khuôn phép gia đình nữa. Cũng có thể do sách vở làm hắn mộng mơ phiêu lãng để rồi chẳng đi đến đâu.
Hai năm ở Sư Phạm Qui Nhơn là hai năm chơi nhiều hơn học. Hắn nhớ cùng bạn bè tổ chức những buổi đi chơi xa hoặc đi picnic, khi thì Ghềnh Ráng, khi thì thăm mộ Hàn Mặc Tử hoặc thăm trại cùi Phương Quý hoặc Suối Đá. Nhưng kỷ niệm đáng nhớ nhất vẫn là những lần bãi lớp đạp xe trối chết về tiệm cơm tháng để giành chỗ ngồi trước. Lý do là ăn trước thì thức ăn nóng và ngon hơn, thứ nữa là về trễ phải ngồi đợi lâu quá đói bụng… Rồi những bữa nhậu trời long đất lở. Hắn nhớ có một lần nhậu say thằng bạn tên Chín chui dưới gầm giường để núp. Hắn hỏi nó tại sao, nó bảo nó là chuột, hắn la lên mầy không phải là chuột và kéo ra khỏi gầm giường, hai đứa giành giật nhau cả buổi, tội nghiệp sáng ra tay chân nó bầm dập đủ nơi…
Giấc mơ Đà Lạt vẫn còn ám ảnh chưa rời thì một bất hạnh xảy ra với hắn: Số là hắn đinh ninh đổi đi dạy ở Đà Lạt thì thằng bạn thân mà hắn ủy nhiệm lại chọn Quảng Trị. Giấc mơ Đà Lạt không thành đã giết chết nửa cuộc đời mơ mộng mà hắn luôn lãng đãng mang theo. Hắn trình diện ty Quảng Trị với một nỗi lòng héo hắt. Lúc đó chiến sự đã có mòi khốc liệt, đường xe đò Huế - Quảng Trị bị đặt mìn liên tục. Có lúc ngồi trên xe đò mà hồn phách thất lạc tận đâu đâu vì hai bên đường một vài chiếc xe cháy đen bẹp dúm cùng một vài xác chết của hành khách nằm vương vãi hai bên trông rợn người.
Ra đến Ty nhận sứ vụ lệnh hiệu trưởng thì ngay ngày hôm sau một thằng bạn khóa trước chực sẵn để bàn giao công vụ cùng khuôn dấu hiệu trưởng. Ngày đến trường hắn càng nản hơn, từ Cam Lộ đạp xe dọc theo quốc lộ 9 gần 10 cây số xong rẽ vào một làng quê thêm cây số nữa mới đến trường. Trường là một dãy nhà tôn năm phòng, giáo viên toàn là nam và là dân địa phương. Nhìn học trò hắn càng ngán ngẩm hơn, không khác gì hình ảnh mà Cao Bá Quát đã tả: Nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi. Áo quần xốc xếch tả tơi, mặt mày lem luốc hốc hác, tóc tai bù xù trông giống đám trẻ bụi đời. Có lần hắn hỏi một học sinh sao không thuộc bài, hắn nghe một câu trả lời lạ hoắc: “Dạ thưa thầy hôm qua em đi mót lúa với mạ em”! Trời đất, mấy giây sau hắn mới hiểu mót lúa là gì (lượm lúa rơi còn sót lại sau khi gặt). Chừ nghĩ lại hắn thấy mình quá đỗi vô tâm. Tại sao không đem lòng thương để san sẻ mà lại nản chí. Sau vài ngày hắn giao khuôn dấu cho giáo viên già nhất trường về lại Huế rong chơi. Có nhiều lần hắn muốn bỏ nghề nhưng lại không biết làm gì vào lúc đó. Gia cảnh nhà hắn lúc đó lại khó khăn, rất cần đồng lương hàng tháng của hắn để tài trợ cho đứa em đang học ngành Y tại Sài Gòn. Cơ cực nhất là những ngày mưa phùn gió bấc đạp xe từ Cam Lộ đến trường đã xa, cái cảnh mà hắn nhớ đời là bùn quánh vào bánh xe không đạp được phải dùng một cái que để xoi xỉa cho nó rớt xuống, đi một đoạn lại phải dừng lại xoi xỉa, có ngày 10 giờ sáng hắn mới tới trường. Rồi những ngày mùa hè cũng khốc kiệt không kém. Gió Lào thổi liên miên bất tận suốt ngày đêm, rờ đâu cũng nóng, từ chiếc giường nằm cho đến ghế ngồi, cát bụi mù mịt khắp nơi, cát bay cả vào thức ăn. Có ngày chỉ uống nước cho đến sình ruột cóc mới thôi. Đối với hắn, nơi đây không khác chi cảnh lưu đày. Càng chối bỏ hiện tại hắn càng mơ khung trời Đà Lạt đã đi năm nào, hắn sống trong một tình trạng vong thân y như triết của Satre và Camus đã phổ vào đầu óc hắn. Hắn thấy đời toàn phi lý và nôn mữa. Mấy tháng hè cuối năm đó hắn nhận được giấy trình diện của bộ Quốc phòng nhập ngũ khóa 26 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Thôi giã từ lưu đày và quê nhà, hắn thề với lòng mình là không bao giờ quay trở lại vùng đất quê nghèo cày lên sỏi đá này nữa. Sau 9 tháng ở quân trường Thủ Đức, giấc mơ Đà Lạt vẫn còn ám ảnh nhưng than ôi định mệnh lại một lần nữa trêu chọc hắn: Tiểu khu Tuyên Đức Đà Lạt đã hết chỗ. Hắn muốn xin đi tiểu khu này nhưng các bạn đồng khóa d0063 trước đã chọn hết rồi. Gần đến phiên mình hắn hỏi một tân binh sĩ quan ngồi cạnh có tiểu khu nào có khung cảnh giống Đà Lạt không, tên đó cho biết là tiểu khu Kontum có khí hậu y chang Đà Lạt. Vì một niềm ước mơ năm nào không thành đã đưa đẩy hắn vào một ngả rẽ mới. Ngả rẽ lớn nhất đó đã định đoạt nửa cuộc đời còn lại của hắn: gặp vợ ở Cao nguyên mặc dầu khi đó đã có người yêu ở Huế và Sài Gòn…
Hắn nhớ lại lời nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma:
Hãy suy tư cẩn thận vì tư tưởng sẽ biến thành lời nói.
Hãy ăn nói cẩn thận vì lời nói sẽ biến thành hành động.
Hãy cư xử cẩn thận vì hành động sẽ biến thành thói quen.
Hãy chú trọng thói quen vì chúng sẽ biến thành nhân cách.
Hãy chú trọng nhân cách vì chúng sẽ biến thành số mệnh,
Và số mệnh của anh sẽ là cuộc đời của anh.
Điểm lại đời mình hắn thấy đúng là hắn đã đùa với số phận. Chính hắn lãng đãng quá nên cuộc đời của hắn cũng lãng đãng theo, hay nói theo Nguyễn Du là tự mình tìm lấy đoạn trường mà đi, nhưng dầu gì thì những ngày tháng đó cũng đeo cứng vào ký ức làm hắn không thể nào quên nhất là những đêm mưa gió sụt sùi của mùa đông xứ lạnh này. Thật đúng như tâm sự nhà thơ Thiều Anh:
Hẹn đến mùa sau sẽ về thăm
Thăm từng cái lạnh dấu trong chăn
Nghe mưa rả rich trong đêm vắng
Để nhớ vô cùng những tháng năm

Nguyên Tịnh

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011

TÌM

Tôi đi tìm lửa trong đêm
Tìm ngọc trong đá tìm sen trong bùn
Tìm cao giữa đám thấp lùn
Tìm người giữa lũ giun trùn ngu ngơ
Tôi đi tìm thực trong mơ
Tìm thanh trong tục tìm thơ trong đời
Tìm người giữa lũ đười ươi
Tìm tri âm giữa tiếng cười lời chê
Tôi đi tìm tỉnh trong mê
Tìm yên lặng giữa bốn bề phong ba
Tôi đi tìm Phật trong Ma
Tìm Thánh trong Quỷ tìm Ta trong Mình




Phương Xích Lô

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2011

VÀ YÊU CÁNH ĐỒNG VỜI XA LÀ ĐÂY ANH CHỜ EM VỀ

“Quê hương” chỉ hai từ đơn giản, mà mới nghe qua đã nghĩ ngay đến “chùm khế ngọt” hay dáng mẹ liêu xiêu trong nắng chiều mà từ bé đã thuộc lòng qua bài thơ “Quê hương” của Đỗ Trung Quân. Ngày xưa, từ khi còn bé tôi có 1 ước mơ ngu ngơ, mà bây giờ mỗi lần nhớ lại phải đỏ mặt thẹn thùng. Tôi đã ước ao được làm người thành phố, để không phải khép nép, thu mình trong vỏ bọc về nỗi tự ti mặc cảm là “dân nhà quê”. Tôi luôn phải “dảnh tai cu” để nghe thằng em họ huyên thuyên về những điều ở “thị xẽ” mà năm khi mười họa tôi mới được chị cả đi mua quần áo cũ về bán lại chở theo, hoặc ngồi lên nóc xe ngựa mỗi năm vào dịp tết. Có nhiều lúc tôi lại bắt chước gọi “cái nhè” thay cho “cái nhà” nhưng chỉ trong chốc lát đã ngượng ngùng nhìn xuống móng chân lốm đốm những vệt phèn.
Cho đến hôm nay, dù đã đi và sống ở rất nhiều thành phố lớn, ở xứ sở được cho là văn minh nhất hành tinh, dù đã tắm gội bao nhiều lần bỡi X-men hay Clear, ngồi trong xế hộp phóng bon bon trên freeway, nhưng kỳ lạ thay vết phèn trên móng chân vẫn không bao giờ xóa sạch. Nó luôn hiện hữu trong cuộc sống hằng qua những câu nói, những bữa cơm hay trong tiềm thức.
Có nhiều người bạn nhận xét về nét riêng của dân Phú Yên là những câu nói rất ngộ nghĩnh như: “dẫy na”, “hửng”, “me chai”, hay “trời ơi” – riêng chữ này họ không thể biểu diễn được bằng chữ viết theo cách nói của người Phú Yên,
Chiều nay trên đường về nhà, bật radio tình cờ nghe bài hát “Tôi Yêu” của nhạc sĩ Trịnh Hưng, tự nhiên thấy nhớ quá, nhớ đến nao lòng:
Tôi yêu quê tôi yêu lũy tre dài đẹp xinh
Yêu con sông xanh dâng cát hoe vàng bên đình
Yêu trăng buông lơi trên má cô hàng đẹp xinh
Và yêu mấy nhịp cầu tre là đây đang dựng mùa hoa.
Quê tôi không có cầu tre lắc lẻo, nhưng trong ký ức tôi luôn hiện hữu lũy tre làng bao bọc nằm bên dòng sông Ba êm đềm, ngọn núi Sầm sừng sững bên hông ngôi trường tiểu học, nơi đầy ắp những hình ảnh về dây thép gai, bao cát vết tích còn lại của cuộc chiến. Cũng tại nơi này trong 1 lần chăn bò bên rìa núi, thằng bạn chung lớp cứ ngỡ quả M79 là đồ chơi – một tiếng nổ vang lên, lớp học vắng 1 người nơi bàn áp chót!
Tôi yêu đơn sơ qua mái tranh nghèo mẹ quê
Yêu duyên nên thơ trong tiếng khoan hò ước thề
Yêu con đê xưa đưa lối qua chợ làng xưa
Và yêu mấy nhịp cầu tre là đây anh chờ em về
Dù đã từng nếm qua những món ăn đến từ Tàu, Mễ, Mỹ, Ý. Nhưng với tôi những món ăn dân dã, gắn liền với tuổi thơ, với sự nhọc nhằn của mẹ, sự vất vả của ba luôn là thứ tôi thèm muốn nhất. Ngay lúc này đây tôi ao ước được mẹ gọi dậy quây quần bên nồi cơm nóng hổi, được nhóm bằng những chiếc lá rụng trong vườn, bên thức ăn chỉ độc nhất món ruột huyết heo kho hành tiêu mua từ nhà 6 Vân vào sáng sớm.
Tôi cũng ao ước được trở về vào mùa mưa lụt tháng 10 để được chèo chiếc bè được đóng từ những cây chuối trong vườn nhà nội, được mẹ cho ăn món cá nhét nấu bông giờ thơm nức mũi, ngọt tận chân răng. Tôi cũng không sao quên được canh mướp nấu cá thài bai, loại cá chỉ bằng cọng rạ được đong bằng khu chén, nhưng ngon vô cùng.
Kìa cùng đùa vui trẻ thơ ca hát say đời
Dù nghèo mà vui hỏi ai không hé môi cười
Mưa nắng ơn trời luống cày thắm đẹp lúa ngời
Xóm làng đón mùa chiêm mới
Ấm no ấp ủ làng tôi.
Tôi nhớ những ngày cùng đám bạn chèo xuồng ngược dòng lên Phú Lộc bẻ mía, hái dưa, hay xuôi dòng về Ngọc Lãng và chỉ trở về khi mặt trời đã khuất sau dãy núi, những lúc ấy tôi cứ nghĩ đang ngược dòng Hoàng Hà đến Lương Sơn Bạc để đối ẩm cùng các anh hùng hào kiệt.
Làm sao quên được những buổi chiều hè, những thửa ruộng chỉ còn trơ gốc rạ, một mùi hăng nồng. Lũ chim sơn ca mà chúng tôi quen gọi là chim loắt choắt cùng bọn chiền chiện hót vang trời, xa xa những cột khói bốc lên từ nhà ai đang nấu cháo heo hay 1 khóm rơm do lũ nhóc nghịch ngợm đốt. Tôi cũng không sao quên được những đêm đốt lốp xe đạp đi soi dế, nào là thang, đạm, khói, lửa. Những cái tên được đặt theo màu sắc chứ không là Mèn, là Trũi như bác Tô Hoài.
Nhớ những ngày vào thu, từng đóa cúc dại tím ngát, từng cột khói lam tỏa khắp thôn xóm. Ruộng mới vừa cày xong, mùi đất mới tanh ngai ngái, tiếng ếch nhái râm rang. Đó cũng là thời gian tựu trường, được gặp lại lũ bạn sau 1 mùa hè rong chơi, bắn chim, câu cá. Tôi nhớ mãi những ngày mưa bão, hay mùa gió nam cồ gò lưng trên chiếc xe đạp cà tàng trên đoạn đường đến trường dài gần 6 cây số, vẫn vui vẻ sống như bác nông dân vừa cày xong thửa ruộng.
Nhưng điều tôi nhớ nhất vẫn là hương vị Tết ngày xưa, khoảng từ giữa tháng Chạp, người ta đã rục rịch dẫy mả, cắt tóc để ăn Tết. Những tiếng "ầm ùm" phát ra từ các lò rang cốm. Khoảng 25-26 thì cả xóm đã vệ sinh, quét rác - vui như Tết. Thời gian này phụ nữ trong xóm đã làm bánh thuẫn, bánh kẹp. Mỗi khi bị trịt là đuổi bọn nhóc tôi đi, vì cho là "nặng vía". Đến 29 tết tiếng heo bị giết thịt la eng éc, cả xóm nhộn nhip. Đến chiều tiếng pháo râm rang báo hiệu nhà nào cúng tất niên. Tối đến đi chợ tết, chợ họp từ xẩm tối đến sáng 30, phần lớn bán rau quả, từng ngọn đèn dầu leo lét, tiếng gọi nhau i ới như phiên chợ làng Vũ Đại.
Tôi yêu quê tôi yêu mãi bây giờ còn yêu
Yêu chim bay qua mang đến tin mừng thái hòa
Yêu anh yêu em yêu nước yêu trời gần xa
Và yêu cánh đồng vời xa là đây anh chờ em về.
Tình yêu như trò chơi cút bắt, hai bím tóc ngoe nguẩy ngày xưa chắc giờ đã rối nhàu lam lũ. Xin nguyện cầu cho quê hương sớm được thanh bình tự do, muôn người vui vầy sum họp.

Phùng Trân

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

THÔI ĐÀNH

Ngày xưa phố thị ta bà
Em mang áo tím về qua bụi hồng
Nắng vàng ngơ ngẫn đầu sông
Ngày thu xanh ngắt mấy dòng mây trôi
Thôi đành khép lại bờ môi
Ngàn dâu lau lách sương rơi bên cồn
Ráng chiều chết giữa hoàng hôn
Tuổi xanh đã chết giữa dòng thời gian
Thôi đành lỡ chuyến đò ngang
Nợ duyên là chiếc thuyền nan chòng chành
Trăm năm là chuyện để dành
Thời gian là chuyện loanh quanh tháng ngày
Bây chừ sáo đã xa bay
Gặp nhau để nhớ tháng ngày chia xa
Cầm tay năm tháng đâu là
Hồ thu mắt biếc Hằng nga hồng trần...

Sài gòn 2005 Ngày họp mặt SPQN
Minh thiện Nguyễn Đình Diệm K5

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

TÌNH MẸ


Đọc và suy gẫm

Khi bạn 1 tuổi, mẹ đút từng miếng ăn và chăm sóc cho bạn. Bạn cám ơn mẹ bằng cách khóc suốt đêm dài.
Khi bạn 2 tuổi, mẹ tập cho bạn đi. Bạn cám ơn mẹ bằng cách bỏ chạy đi khi mẹ gọi.
Khi bạn 3 tuổi, mẹ làm cho bạn tất cả những bữa ăn với tình yêu thương. Bạn cám ơn mẹ bằng cách quăng bát đĩa xuống sàn.
Khi bạn 6 tuổi, mẹ dắt tay bạn đến trường. Bạn cám ơn mẹ bằng cách la lên: “Con không đi”.
Khi bạn 11 tuổi, mẹ dẫn bạn cùng bạn bè của bạn đi xem phim. Bạn cám ơn mẹ bằng cách xin ngồi ở hàng ghế khác.
Khi bạn 12 tuổi, mẹ răn bạn không được xem những chương trình tivi nào đó. Bạn cám ơn mẹ bằng cách đợi cho đến khi mẹ rời khỏi nhà rồi bật lên xem.
Khi bạn 13 tuổi, mẹ đề nghị bạn cắt tóc. Bạn cám ơn mẹ bằng cách bảo rằng: “Mẹ không biết thế nào là sành điệu”.
Khi bạn 15 tuổi, mẹ đi làm về chờ đợi sự chào đón của bạn. Bạn cám ơn mẹ bằng cách khóa cửa phòng bạn.
Khi bạn 18 tuổi, mẹ đã khóc trong ngày lễ tốt nghiệp của bạn. Bạn cám ơn mẹ bằng cách đi chơi với bạn bè đến chiều tối.
Khi bạn 20, mẹ hỏi bạn đã gặp gỡ “ai” chưa. Bạn cám ơn mẹ bằng cách đáp: “Đó không phải chuyện của mẹ”.
Khi bạn 21, mẹ đề nghị bạn những nghề nghiệp nào đó cho tương lai. Bạn cám ơn mẹ bằng cách trả lời: “Con không muốn giống mẹ”.
Khi bạn 24, mẹ gặp vị hôn phu của bạn và hỏi về những kế hoạch trong tương lai của bạn. Bạn cám ơn mẹ bằng cách giận dữ và càu nhàu: “Mẹ… con xin mẹ”.
Khi bạn 25, mẹ lo lễ cưới cho bạn, mẹ khóc và nói rằng: “Mẹ yêu con biết bao”. Bạn cám ơn mẹ bằng cách dọn đến sống ở một nơi xa.
Khi bạn 30, mẹ gọi điện cho bạn khuyên bảo về việc chăm sóc trẻ con. Bạn cám ơn mẹ bằng cách nói rằng: “Mọi việc giờ đã khác xưa rồi mẹ”.
Khi bạn 40, mẹ gọi để nhắc bạn nhớ sinh nhật của người thân. Bạn cám ơn mẹ bằng câu trả lời: “Bây giờ con thật sự bận lắm”.
Khi bạn 50, mẹ ngã bệnh cần bạn chăm sóc. Bạn cám ơn mẹ bằng cách tìm đọc sách về “Cha mẹ trở thành gánh nặng cho con cái như thế nào”.
Và rồi một ngày kia… mẹ lặng lẽ ra đi, tất cả những điều bạn chưa kịp làm cho mẹ sụp đổ tan tành.
Nếu mẹ còn ở bên bạn, hãy luôn yêu thương và kính trọng mẹ. Nếu mẹ ra đi, những kỷ niệm yêu mến của mẹ và nuối tiếc của bạn sẽ ở lại.

Vì cuộc đời bạn chỉ có một người MẸ mà thôi !!!

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

Họp Mặt Sư Phạm Qui Nhơn

Phan Liên K7

Mười hai tháng sáu eleven
Qui Nhơn Sư Phạm Cali Hố Dề (Jose)
Gặp nhau họp mặt mùa hè
Đón chào bạn cũ làm nghề Thầy Cô
Áo xanh ngập cả hội trường
Vui mừng trò chuyện huyên thuyên bạn bè
Thức ăn nước uống hoa tươi
Ghi tên danh sách tươi cười khen nhau

Tưng bừng ca khúc
Hè Về
Như Phương Hạ Trắng mượt mà thiết tha
Phượng Lê với Thung lũng Hồng
Việt Nam Ngao Nghễ hào hùng bài ca
Những Ngày Thơ Mộng Thanh Trâm
Mấy chị nghiêng nón Khúc Ca Ngày Mùa
Nguyên Đạt thổi sáo thiệt pro
Khóa 10 Chị Thọ bài thơ êm đềm
Sáng Trăng Sáng cả Vườn Chè
Phạm Đính đi trước võng Thùy theo sau
Mấy cô thôn nữ sắc màu
Bên cạnh mấy chú lính hầu mang loa
Rộn ràng bài hàt Dân ca
Mấy anh mấy chị khoan hò vỗ tay
Khán giả cũng thấy vui lây
Gõ muỗng gõ nĩa gõ bàn gõ ly
Ngày Xưa Hoàng Thị xuân thì
Áo xanh áo tím cùng đi ngập đường
Xuân Thùy áo trắng dịu dàng
Làm duyên Thanh Thủy theo nàng nón nghiêng

Rễ dâu Sư Phạm Qui Nhơn
Ngồi xem bên dưới không thua kém gì
Vỗ tay rồi lại
Nói Vè
Bao nhiêu nồi bún nồi chè nồi xôi
Bao ngày tập dượt ỉ ôi
Để cho có được một ngày như rì

Nắm tay hát Gặp Nhau Đây
Hẹn đến dịp khác một ngày tương lai
Cuối năm vào tháng mười hai
Cùng nhau tổ chức cho ngày năm mươi

Kỷ niệm cuộc họp mặt đồng môn Bắc CaLi hè 12/6/2011

NGÔI NHÀ ƯỚC MƠ

Tùy bút


Con sẽ là kiến trúc sư, sẽ thiết kế những ngôi nhà cả lớn lẫn bé, cả sang trọng lẫn bình thường. Đây quả là điều tuyệt vời. Nhưng bao giờ con cũng tự hỏi: “Những ngôi nhà ấy rồi có trở thành bến đậu bình yên của những cuộc đời không"? Điều ấy chẳng phải do con vì con chỉ có thể tạo ra ngôi nhà; còn họ mới là người làm nên mái ấm.
Những lúc ấy con lại nhớ đến căn nhà cũ kỹ nhỏ bé của mình khi xưa mà con vẫn gọi là “căn nhà bão dừng sau cánh cửa”. Ngôi nhà nhỏ bé lắm và lại cũ kỹ, nhưng nó lại là bến bờ nồng ấm suốt bốn mùa.
Mùa xuân chẳng bao giờ lỗi hẹn. Cội mai già của bố cứ vàng rưng rức ngoài hiên. Căn bếp nhỏ cứ bập bùng ánh lửa. Đôi má mẹ ửng hồng khi thổi bữa cơm đầu năm. Bố khấn vái bên bàn thờ ông bà. Mùi nhang trầm thật ấm, nồng thơm ra cả ngoài vườn, quyện vào những gốc mai. Năm nào cũng thế, mà sao năm nào cũng nôn nao như lần đầu cái cảm giác mới mẻ tinh khiết quá của một sớm đầu năm. Con mở toang cửa. Ngoài kia gió xuân ren rét ùa vào mà sao bữa cơm đầu năm cứ ấm lòng đến lạ. Trong ánh mắt cuả bố mẹ, trong tiếng cười khúc khích của mấy chị em… biết hạnh phúc là điều có thật!
“… Cầm tay mẹ cha lòng như biển rộng
Mơ cánh buồn đi một chấm đào hoa…”
Mùa hạ oi nồng, nằm trên chiếc võng đong đưa bên cửa sổ, vẫn thấy gió về xào xạc dưới tán dừa kia. Và trong vị mát lạnh ngọt ngào của ly “cocktail” mùa hạ mẹ pha khi thì đu đủ, lúc quả dừa xiêm ngoài vườn, chợt thấy cái nắng oi ả ngoài kia tan biến tự lúc nào.
Mùa thu. Con thường ngày hàng giờ trên chiếc phản gỗ mun đen bên cửa sổ. Vì nắng về trong khu vườn trong trẻo đến lạ kỳ. Khi con thi thoảng làm thơ, những câu thơ bao giờ cũng tươi tắn. Vì con thấy mẹ đang ngồi kia, giữa thoáng gió heo may ùa qua cánh đồng về bên cửa. Mẹ sửa lại chiếc áo đã sờn cũ để trong cái nắng vàng ươm của một sớm thu tung tăng đến lớp, chiếc áo mẹ may cho con vẫn tinh tươm trong buổi khai trường.
Chiều đông bố đón con đi học về giữa gió rét căm căm. Ngọn gió từ bờ sông như quất mưa vào mặt, nhưng bao nhiêu năm rồi bố vẫn đón đưa đều đặn thế. Vì cuối con đường rét mướt kia là mẹ, là căn nhà ấm áp, là bữa cơm chiều nóng hổi mãi mãi ấm lòng con… ngoài kia mưa rơi như trút và gió xoáy từng hồi trên những tàn cây. Mùa mưa ở miền Trung có bao giờ thôi khắc nghiệt? Nhưng bão và dông và gió rét căm căm… tất cả đều dừng sau cánh cửa. Để bên trong chúng con ru những giấc mơ bình yên đi trọn cuộc đời.
Buổi tối, mẹ cẩn thận nhóm chậu lửa với than hồng vùi vào tro bếp rồi để dưới giường con. Trong chăn ấm, vẫn nghe tiếng mẹ lục đục gom những chậu, xô… lớn bé để hứng mưa dột trong nhà. Chẳng bao giờ con ngủ cả. Con lắng nghe hết tiếng của mẹ trong đêm như những âm thanh bình yên nhất của cuộc đời mình. Thật an lành khi biết có mẹ ở bên…
Một căn nhà như thế làm sao mà con quên?...



Nguyễn Tâm Bình K6

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

VỀ VỚI HUẾ

Minh Thiện Nguyễn Đình Diệm K5


Ta về với Huế ngày mưa
Qua dòng sông cũ mấy mùa lưu vong
Mưa đan sợi nhớ mịt mùng
Mưa buồn quán vắng nhẹ rung tuổi hồng

Ta về với Huế ngày đông
Soi đời lặng lẽ giữa dòng thời gian
Bên đời lỡ bước lang thang
Quê người phố bụi giữa ngàn phù hoa

Ta về với Huế u hoài
Trường xưa lối cũ chưa phai bóng người
Mơ hồ nghe lá hoa cười
Dấu chân hoang cỏ tuổi đời buông trôi

Còn nghe đâu đó xa xôi
Đồi thu Vọng Cảnh chiều rơi tím chiều
Huế ơi mưa xuống cô liêu
Nghe ta bước giữa rong rêu tháng ngày

Tháng 8/2011

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011

CHÉN MẮM CÒNG ẤM LÒNG ĐÔNG GIÁ


Mùa đông bất chợt trở về ôm lấy mùa thu chưa kịp bỏ đi, những gợn mây buồn vẫn mãi hoài ngự trị giữa bầu trời xám xịt do ảnh hưởng bởi cơn áp thấp nhiệt đới gần bờ hơn cả tuần nay. Cái rét lẫn vào cơn gió đầu mùa chưa đủ lạnh, nhưng cũng đủ làm cho những người xa xứ cảm thấy buồn buồn, nhớ nhớ về nơi chốn quê nhà thân thiết ngày xưa với những buổi theo cha đào bắt còng biển làm mắm cải thiện bữa ăn hằng ngày trong gia đình suốt khoảng đời ấu thơ gian khổ.
… Quê nhà tôi là một làng chài nhỏ bé thuộc vùng duyên hải miền Trung, nằm sát ven biển Tuy Hòa tên gọi Đông Tác. Hồi ấy, đoạn từ Mỹ Á đến Bãi Dài còn nguyên là những bãi cát trắng phau nối tiếp mọc đầy cây dại và rau muống biển; mỗi khi mùa đông tới, đây chính là nơi lý tưởng cho mấy chú còng biển (thường ở cách bờ khoảng một hai cây số) di cư vào, đào hang trú ẩn.
Mùa đông là mùa biển động, bà con làng chài không ra khơi thả lưới buông câu được nên rất nhàn rỗi; những gia đình nghèo nếu thiếu tiền đi chợ thì mắm còng chính là món ăn dễ kiếm, giúp bà con chế biến thêm vài món mặn miệng trong bữa cơm hằng ngày cho qua những ngày giá rét. Đối với lũ trẻ con lóc nhóc hiếu động và ham vui như chúng tôi, được theo người lớn đi bắt còng biển cũng là cái thú, nhiều hôm gió mưa tầm tã, người ướt như chuột lột, mình mẫy lạnh cóng nhưng ai nấy đều cảm thấy thỏa mãn sướng vui.
Còng biển thường đào hang sâu tới nửa mét, không vòng vèo lắt léo gì lắm nhưng muốn bắt được nó không hẳn là dễ, phải vừa dùng cuốc, dùng tay để đào thật nhanh, mỗi buổi chộp được khoảng năm chục con bỏ vào thùng thiếc cũng được gọi là giỏi; về nhà, nhín bớt năm mười con đem biếu hàng xóm láng giềng hoàn cảnh đơn chiếc ốm đau coi như san sẻ ít nhiều khó khổ với nhau. Mùa này còng biển không to con nhưng mình thon, thịt chắc, màu trắng, có gạch nhiều và đặc biệt là sạch vì chúng vốn không ăn tạp, chỉ ăn thuần cỏ non nên trước khi chế biến thành mắm chỉ cần bỏ vào nước rửa sạch, xỏ lòi chừng bảy, tám con vào một cái que vót nhọn rồi đem nướng; mùi chín vàng tỏa ra thơm lựng khắp nhà khiến mọi người tự nhiên cảm thấy thèm cơm, bụng đói cồn cào. Tiếp đến tách bỏ mu còng, vặt bỏ chân, chỉ để càng lớn và đem quết nhuyễn với lá é quế, xong, trộn nước mắm nhĩ giã ớt tỏi chanh đường. Sau khi chế biến xong, ta đã có một tô mắm còng màu vàng gạch, nước sền sệt, béo và mùi thơm rất đặc biệt, không phải là vị thơm của còng gió, còng cát hay cua đồng mà là một vị thơm đặc trưng của còng biển mùa biển động, ngon không chê được.
Tháng chín, tháng mười đến, cơn gió mùa đông trở về với những đợt gió se lạnh thường dừng chân bên cửa sổ, tiếng mưa rả rích ngoài hiên nhà tấu thành điệu nhạc trầm buồn man mác khiến lòng người thêm se sắt sầu thương; một tô mắm còng được đặt giữa mâm cơm nóng sốt cộng với dĩa rau lang hay rau muống luộc là một bữa ăn được gọi là “ hấp dẫn”, ngôi nhà đột nhiên ấm cúng hẳn lên làm ai cũng thấy ngon miệng, ních đến đầy bụng, bới “lủng cả nồi”.
Đối với dân nhậu thì bánh tráng nhúng, cuốn với rau sống chắm mắm còng cũng là món khoái khẩu của bà con bình dân quê tôi bên bếp lửa chiều đông mờ tối đấy bạn ạ!
Xa miền Đất Phú Trời Yên lâu ngày, được du lịch nhiều nơi, thậm chí bây giờ được may mắn qua định cư tận nước Mỹ (miền đất hứa bao người mong ước); được thưởng thức nhiều món ngon vật lạ, đặc sản của nhiều vùng miền nhưng hương vị của chén mắm còng mặn mòi ngày cũ nơi quê nhà vẫn còn mãi hoài đọng lại trong ký ức tôi…

Tháng 4/2009
ĐÔNG HẢI K9

TRÔNG VỀ QUÊ CŨ




Chiều chiều ra đứng bờ sông,
Trông về quê cũ nghe lòng buồn hiu
Nỗi buồn chẳng biết bao nhiêu
Cố hương lơ lửng như diều đứt dây


Bao năm lưu lạc nơi này
Bao giờ mới được có ngày hồi hương
Cho tôi tìm lại tên đường
Ngày xưa khuya sớm tôi thường đi qua

Chiều chiều trông phía trời xa
Bên kia biển rộng quê nhà Việt Nam
Cà Mau tới ải Nam Quan
Bốn ngàn năm đã chứa chan bao tình.

Bao giờ trở lại quê mình
Bao nhiêu xa cách bấy tình nước non
Bể dâu thân mẹ hao mòn
Muôn sâu ngàn mọt gậm mòn thịt da

Hồn từng cột mốc xót xa
Chân dung gấm vóc hôm qua đâu rồi

Hoài Hương Nguyễn Thị Thọ K10


Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

NGẢ RẼ ĐƯỜNG ĐỜI


Trong cơn hoảng loạn của những ngày cuối cuộc chiến tháng 3 năm 1975, tôi cũng như những người dân hai tỉnh Quảng Trị Thừa Thiên khác, tay xách nách mang kéo nhau chạy vào Đà Nẵng để sau đó tìm cách xuôi Nam mong tìm con đường sống, nhưng vì bụng mang dạ chửa, đành phải quay về trình diện Ty Tiểu học xin trở lại nhiệm sở. Nhận lớp dạy được một tháng lại xin nghỉ hộ sản, định nghỉ trước một tuần để chuẩn bị ai dè mới ba hôm đã đến ngày sinh.
Huế mớí đổi chủ khoảng hơn một tháng, thiên hạ di tản khắp nơi, có người lọt ra được nước ngoài, người còn ở lại Sài Gòn, Nha Trang… chưa trở về. Bệnh viện Huế cũng vậy, Bác sĩ, nhân viên cũ chỉ còn lại một số rất ít, thay vào đó là những y công, bác sĩ, y tá toàn người miệt ngoài giọng nói lạ hoắc nên khi chuyển bụng vào Bệnh viện Trung ương Huế nằm chờ, tôi lo sợ đủ điều. Sinh nở lần đầu không là chuyện dễ, phải đợi qua một đêm đến trưa hôm sau, sắp lên bàn sinh thì may đâu, một nữ hộ sinh Quốc gia xuất hiện, bao lo âu sợ hãi không còn, thay vào đó là nỗi vui mừng khôn kể. Gặp được cô đỡ người Huế, nhờ Trời thương Phật độ mọi sự tiếp theo sau xẩy ra tốt đẹp, mẹ tròn con vuông.
Ba tháng nghỉ hộ sản qua mau, tôi lại phải tay xách nách mang bồng con trở lại trường ở tập thể, tiếp tục công tác. Sáng dạy, chiều lo giáo án và đủ thứ chuyện linh tinh khác; giờ ra chơi lại phải ba chân bốn cẳng chạy về cho con bú. Giày cao gót, áo quần tha thướt nay đã hết thời, thay vào đó là áo bà ba quần đen cũng tiện cho việc chạy nhanh về với con.
Sau tháng tư năm 75, hầu hết giáo viên phải bán đi một số đồ điện như quạt máy, bàn ủi và những bộ áo dài, áo lông, quần tây và vài thứ vặt vảnh khác để có thêm tiền sinh sống. Một số được sửa lại thành bà ba để mặc với quần chéo đen được mua theo tiêu chuẩn tem phiếu hai năm 5m do “nhà nước” cấp. May nhờ quần áo trước 75 còn lại khá nhiều nên cũng dùng được khoảng hơn chục năm. Ăn thiếu nhưng mặc cũng tạm đủ. Nhiều bạn chưa quen với cách ăn mặc qúa đơn giản, muốn thẳng thớm một chút cứ việc xếp vuốt áo quần đàng hoàng dằn dưới gôí là sáng ngày có đồ thẳng nếp để lên lớp.
Nơi tôi dạy là một cơ sở lẻ ở đình Phổ Lại cách trường chính khoảng 5 phút chạy bộ. Trường tôi nằm bên tỉnh lộ, từ Huế theo QL1 hướng bắc, đến An Lỗ rẽ phải về phía chợ Sịa, một chợ lớn ở thị trấn Sịa thuộc huyện Quảng Điền. Giáo viên dạy các trường quanh vùng An Lỗ, Sịa, một số đạp xe đạp, số khác đi xe đò, các thầy cô độc thân mỗi tuần lên Huế một lần, về với gia đình để được bồi dưỡng vì cả tuần ở lại trường ăn cơm tập thể với mấy con cá “long hội” và canh” toàn quốc “ nên không đủ dinh dưỡng và sức khỏe tốt để lên lớp.
Ngày ngày chị nuôi phục vụ hai lần cơm trưa và tối cho khoảng ba chục giáo viên ở tập thể, đa số là các thầy cô gốc ở thành phố; mỗi lần một nồi cơm lớn gạo tồn kho lâu đời trộn với sắn, khoai hay bo bo, it có cơm rời vì cơm bao quanh những chất độn. Mỗi bàn ăn khoảng từ 4 đến 6 ngườì gồm một tô canh rau, môn hay nưa gì đó nấu loãng và một dĩa cá vụn hay tôm tép; những người ăn nhanh còn có chút mặn miệng, riêng tôi vì tội ăn chậm nên luôn bị thiệt thòi, chỉ nếm được chút hương vị nước canh còn lại ở đáy tô, chưa bao giờ biết cọng rau non già cứng mềm ra sao.
Cũng may nhờ bản chất siêng năng, dạy dỗ đàng hoàng, năm nào cũng đạt danh hiệu giáo viên tiên tiến xuất sắc; điều này có thể không nói lên được điều gì, nhưng tôi nghĩ thời nào cũng vậy, nếu thầy cô biết trang bị cho học sinh có kiến thức để ứng xử với đời, dạy cho con em biết những điều nhân nghĩa để sau này trở thành một người tốt, biết phân biệt trắng-đen, phải-trái là không hổ thẹn với lương tâm, là làm tròn thiên chức nhà giáo, không phụ với ngôi trường Sư phạm Qui Nhơn, nơi mình đã xuất thân là được rồi.
Sau 4 năm chịu thương chịu khó ở trường xa, tôi may mắn hơn các bạn khác, được hiệu trưởng sở tại thương tình đề nghị với Hội đồng Ty Tiểu học cho chuyển lên Huế, gần nhà, thoát nạn cơm tập thể lại được sống trong gia đình có anh em hổ trợ cả tinh thần lẫn vật chất (mặc dầu thời đó ai cũng khó khăn chỉ giúp nhau rất khiêm tốn nhưng cũng được an ủỉ rất nhiều).
Về nhà, mọi việc thuận lợi, con đã lên bốn có thể gởi vào mẫu giáo nhỏ; đời sống có phần ổn định nên đầu óc bớt căng thẳng hơn. Nhiều lúc nhớ lại đoạn đường đã qua mà cảm thấy nao lòng; nội quy của nhà trường không ai được nấu riêng hao tốn củi lửa nên muốn cho con có bữa ăn (không trộn lẫn chất độn) hằng ngày, tôi đã nẩy ra sáng kiến: lấy một túm gạo đem vo sạch, bỏ vào túi vải thắt lại đem gởỉ vào nồì cơm tập thể cho tiện việc. Muốn kho chút thịt cá cho con thì phảỉ chờ tới cuối tuần bếp tập thể nghỉ chỉ còn lại mấy gia đình có con nhỏ, và mấy giáo viên người Quảng Bình vào ở cố định nấu nướng luôn. Có con nhỏ, việc di chuyển khó khăn nên cứ khoảng năm sáu tuần mới về nhà một lần lo cụ bị vài món đồ khô để dành cho con ăn lần. Tội nghiệp, con cái nhỏ dại cũng phải chịu khổ lây. Có một lần, và chỉ một lần độc nhất tôi nhớ mãi. Suốt ngày hôm đó ôm con đi họp đến chiều về không còn chút gì, đành phải rưới nước mắm vào cơm cho nó ăn tạm. Nhìn đứa con thơ há miệng, cố trệu trạo nhai nuốt mấy muỗng cơm thiếu dinh dưỡng mà lòng đau như cắt, không kiềm chế được, tôi đã mặc tình để cho những dòng nước mắt tuôn rơi lả chả.
Tiêu chuẩn lương thực được cấp cho giáo viên mỗi tháng lúc đầu là 15kg (gạo +khoai-sắn+bobo), con ăn theo 5kg nhưng sau vì kinh tế khó khăn nên bớt xuống còn 18kg cho cả hai. Biết lương thực như vậy không đủ nuôi sống nên các xã có kế hoạch cung cấp ruộng và đất khô cho nhà trường để giáo viên cải thiện đời sống. Thế là các thầy-cô nay phải bắt buộc học thêm nghề mới: làm nông. Từ nhỏ chỉ biết cắp sách tới trường, lớn ra đời đi dạy, quen với phấn trắng bảng đen chưa bao giờ biết việc đồng áng, nay phải tham gia sản xuất lao động chân tay: cuốc đất trồng khoai sắn, không quen làm lụng tay chân nên bàn tay phồng lên, đêm về phải lo bóp muối để sáng mai làm tiếp. Khổ nhất là đi cấy lúa cắm đầu xuống đất không quen nên rất khổ, khi gặp đỉa đeo thì hồn phách lên mây, mặt tái xanh, miệng la oai oái.
Để giảm nhẹ công việc, trường thuê trâu cày ruộng trước, giáo viên nhổ mạ trước một ngày, ngày sau bắt đầu giăng hàng ngang tiến quân xuống ruộng. Có bạn sức yếu, nhát gan mới tớí bờ đã té xỉu chỉ vì thấy mấy chú đỉa bơi dưới ruộng, không vì hãi sợ mà bỏ cuộc được, rốt cuộc cả đoàn cùng lội xuống cố gắng làm việc. Có giây giăng sẵn chỉ cắm mạ xuống sâu cho thẳng hàng thì dễ qúa nhưng hôm đầu mới cấy được mấy bụi, đột nhiên thấy nhột nhột, tôi ngoái nhìn xuống thì eo ôi! một con đỉa to tổ bố đang bám chặt vào bắp chân, hoảng qúa, tôi vừa nhảy tung tóe vừa khóc la ỏm tỏi, may đâu anh hiệu trưởng người Quảng Bình đã quen viêc đồng áng bước tới, cười cười bảo: “Bình tĩnh, bình tĩnh để tôi bắt cho”, anh ta liền nhổ nước miếng vào và tuột con vật hút máu một cách nhẹ nhàng. Ôi! Một phen hú hồn, mãi hồi lâu tôi mới lấy lại được bình tĩnh và tiếp tục công việc.
Tiếp theo ngày cấy lúa là ba bốn ngày đau, toàn thân rã rời, bước đi không vững, người như bị ai giần chập nát thịt da. Cấy mạ được một hai tháng gì đó lại tập họp làm cỏ lúa, lại phải lội xuống ruộng lần nữa; tuy sợ đỉa nhưng ở thế bắt buộc nên rồi phải cùng nhau làm, có làm thì mới có công điểm, mới được chia lúa; tránh việc không những không được phần lúa lại còn bị kiểm điểm, bị phê bình không chấp hành chính sách cải thiện đời sống của nhà nước, thôi thì khổ thân còn hơn khổ não.
Khi lúa đã chin vàng trĩu hạt không còn sức chịu đựng được ngã rạp theo chiều gíó, một lần nữa đoàn quân lại đổ bộ xuống ruộng với tay liềm tay hái lao động gặt hái đem về rồi đua nhau đập lúa, phơi lúa, phơi rơm đầy cả sân trường vào những ngày học sinh nghỉ, cô thầy chia phiên nhau cào lúa, trở lúa, phơi rơm tấp vào bếp tập thể; lúa được chia phần theo công điểm. Tiếng là làm để cải thiện đời sống nhưng thực tế chia chác chẳng bao nhiêu mà mệt hết hơi. Lần đầu tiên trong đời sau bao nhiêu năm miệt mài sách vở trường lớp, chân giày tay dù, tưởng đâu chỉ biết “trồng người” nay lại biết thêm nghề “trồng cây” để giải quyết bao tử. Thôi cũng nên “cám ơn đời” vì dẫu sao mình cũng có thêm chút vốn liếng và kinh nghiệm sống.
Ngoài số hàng theo tiêu chuẩn tem phiếu, mỗi tháng giáo viên còn được mua hai góí trà, hai bao thuốc lá Tam Đảo, vài trăm gram đường, thỉnh thoảng có kem đánh răng. Được bao nhiêu đều đem bán hết để có thêm tí tiền mua thức ăn, vì thế giáo viên ai cũng thuộc nằm lòng mấy câu thơ mà chẳng biết người nào là tác giả:
Nhà trường nhường trà uống nước trong.
Thầy giáo tháo giầy mang dép lốp.
Hoặc: Giáo chức dứt cháo đón xuân sang… vv… và… vv…
Sau 75, cũng vì đời sống không ổn định nên có nhiều gia đình hai vợ chồng cùng là giáo viên lại đông con, vì chạy giặc mất sạch sành sanh, trở về với hai bàn tay trắng, nheo nhóc đến tận cùng phảỉ kiếm sống bằng đủ loại ngành nghề, gặp người quen hỏi chuyện: -Bữa ni làm gì? Bèn ngỏn ngoẽn trả lời: -Thợ đụng!
-Nè. Thợ đụng là gì hả?
-Là… Là đụng gì làm nấy đó mà…
Ngôi trường ở vùng đất thấp gần đồng ruộng nên cứ đến mùa mưa là phải đôi ba lần dọn lụt. Nếu lụt nhỏ thì còn đỡ, chỉ việc chuyển đồ đạc từ nhà tập thể lên các lớp học có nền cao hơn. Ai có con nhỏ ở chung phòng, kê hai ba bàn học sinh lại làm giường, kiếm chỗ đóng đinh lên tường để giăng mùng, sống dã chiến cho qua những ngày nước lớn.
Một lần nước bắt đầu lớn, tôi lo chuyển đồ dùng lên lớp, tay bưng lỉnh kỉnh các thứ, miệng dặn đứa con ba tuổi: ”Đứng yên đó, mạ bưng đồ lên chạy xuống đón con liền”; không ngờ khoảng năm ba phút gì đó, vừa chạy xuống thấy thằng bé đang bơi trước thềm nhà tập thể, xuôi theo dòng nước chảy về phía ruộng, tôi la thất thanh, run lập cập, các bạn chạy ùa tới bồng lên để vào giường vừa quýnh quáng thay quần áo vừa hú hồn gọi vía, e thằng nhỏ hồn xiêu, phách lạc mà trở thành… lú lẫn đi chăng?! Còn tôi lúc đó chỉ biết ngồi khóc tức tưởi. Cũng may Trời thương Phật độ nên sau đó cháu vẫn bình thường.
Một lần lụt lớn, những người có con mọn được ưu tiên dọn vào đình Phổ Lại, chỗ làng thờ phượng giờ đã trưng dụng làm lớp học, đó là chỗ cao nhất cách trường chính vài trăm mét. Đang mang nặng đồ đạc trên hai vai lội vào đình, thình lình thấy con rắn bằng chiếc đũa bơi theo, hồn vía như lên mây, may sao còn biết nhanh trí, dùng chiếc dép nhựa xua nó đi, qua một phen khiếp sợ. Tối hôm đó, mẹ con ôm nhau ngủ trên mặt bàn, mùng dằn dưới chiếu đàng hoàng thế mà nửa đêm bỗng nghe rớt cái “bịch” cùng tiếng khóc thét, cùng lúc đó mẹ con bạn H. nằm bàn kề bên la lên: “Cu T. rớt chị V. ơi”. Tôi giật mình đánh thót, mắt nhắm mắt mở quờ quạng bồng con lên, may sao, nhờ vướng mùng nên cháu không hề hấn gì chỉ vì thất kinh nên khóc ré đó thôi.
Bao gian nan lao lý qua rồi, giờ đây ôn lại đôi lúc tôi cũng tự phục mình và tất cả những người đàn bà cùng thời, cùng hoàn cảnh đã cố gắng vượt qua gian lao thử thách, không chịu ngã qụi trước mọi thử thách của cuộc đờì để tồn tại, để chờ ngày đoàn tụ với chồng con mãn hạn tù đày “cải tạo”. Viết đến đây nhắc nhớ lại câu nói rất thực tế của thầy dạy môn giáo dục cộng đồng ngày nào: “Người giáo viên phải biết thích nghi với mọi hoàn cảnh xã hội”. Rõ ràng, những kiến thức các thầy cô truyền thụ ở trường Sư phạm trước đây vẫn tiềm tàng trong chúng ta, khi ra đời xàì nó một cách tự nhiên, biết ứng xử đúng theo từng hoàn cảnh. Tiếc rằng sau bao cơn sóng gió, cuộc sống lao đao, đã không có cơ hội để gặp lại các thầy cô, để thăm hỏỉ chứ đừng nóí chi đến chuyện đền ơn, đành sống vong ân bội nghĩa ngoài ý muốn và tự sám hối.
Tất cả nay đã luì vào quá khứ. Đa tạ ơn trên vì Trời dành còn có hôm nay cho chúng ta được hít thở không khí tự do nơi quê hương thứ hai này. Tuổi đời ở ngưỡng cửa thất thập cổ lai chỉ biết :
“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta còn thêm ngày nữa để yêu thương”
Xin mượn bốn câu Kiều của Cụ Nguyễn Du để kết thúc những tâm tình của người viết:
Trời dành còn có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời
………………………………………
Lời quê góp nhặt giông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.


Sacramento, đầu thu 2011
Vinh nguyen (K4 SPQN)

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

TỰ TÌNH LỤC BÁT

BỒI HỒI

Nửa đêm giữa phố ngó trời
Ngó đời lặng lẽ bên tôi đứng ngồi
Tuổi xanh chừ đã qua rồi
Tháng năm ngó lại bồi hồi phố khuya

Minh thiện Nguyễn đình Diệm K5

KHOẢNG LẶNG



Lặng nhìn mái tóc hoa râm
Ta ngồi nuối tiếc gọi thầm tuổi xuân
Bên thềm vạt nắng bâng khuâng
Bên trời mây núi rưng rưng giọt sầu



Sương trinh rơi xuống mái đầu
Giấc mơ bỗng hoá xanh mầu thời gian
Mưa theo cơn gió đại ngàn
Rưới lên biển nhớ ngập tràn cung thương


Nguyên Đạt K5

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

KHÓC CƯỜI VỚI NGƯỜI THƯƠNG VAY


Nguyên Đạt K5


Tản mạn với Ng. Hữu Ninh-Người viết lời Nẫu ca Trách phận

Từ lâu tôi đã muốn viết đôi điều về anh bạn Nguyễn Hữu Ninh, người sáng tác phần lời “Nẫu ca” Trách phận, một bài hát không những được người Phú Yên mà còn nhiều bà con vùng miền khác rất thích nghe và hát nhưng quả là khó, bởi Ninh là một con người khá đặc biệt, có cá tính lại được nhiều người biết tới; họ hoặc là bạn ở quê, bạn cùng trường, bạn văn nghệ hay là những người đã từng cùng Ninh qua một chặng đường nào đó; giả như có gì sai sót, không khéo người ta sẽ cho là hoa ngôn, xảo ngữ hoặc là thấy người sang bắt quàng làm họ…vv… nên cứ lần lữa mãi cho tới bây giờ.
Năm 1968, sau khi tốt nghiệp Sư phạm Qui Nhơn, tôi chọn nhiệm sở tỉnh Phú Yên và được điểu về dạy học ở trường Tiểu học Hòa Hiệp (người ta quen gọi là Trường Cây Bảng) thôn Phú Hiệp. Mỗi sáng thứ bảy, tôi thường để ra khoảng 15 phút cuối của tiết Sinh hoạt học đường kể chuyện cổ tích, tập hát hoặc cùng học trò làm những cuộc “Văn nghệ bỏ túi”, coi như là món quà vui trước ngày tạm nghỉ.
Một lần, tôi cao hứng tuyên bố: “Bây giờ thầy trò mình cùng hát, vậy em nào biết cải lương, tân nhạc, dân ca, ngâm thơ... gì gì đó chẳng hạn, biểu diễn cho bạn bè cùng nghe cho vui”. Chưa dứt lời đã có hàng chục cánh tay hào hứng đưa lên. Tôi chỉ định hú họa một em, em này mạnh dạn đứng dậy tự giới thiệu:
-Thưa thầy! Em xin hát bài “Trách phận”.
Rồi không cần lấy giọng, em “zdô” liền: Thân thì trách thân (này), thân sao mà lận đận. Mình mà trách mình (này), số phận...
Vừa tới đây, bất đồ cả lớp cùng reo lên: “Bài này em cũng biết, em cũng biết…”. Rồi chẳng ai bảo ai, đồng loạt tiếp lời: … số phận sao cứ hẩm hiu. Bởi thân tôi, tôi cơ khổ tôi eo nghèo, nên vợ tôi nó không ở nữa, (mà) nó theo… Mỹ rầu… (rập ràng y như đã dày công luyện tập từ trước) cho tới đoạn kết của bài hát khiến tôi rất ngạc nhiên, tò mò hỏi:
-Ủa! Sao em nào cũng biết hát bài này vậy hả?
Cả lớp cùng đồng loạt (lại đồng loạt) trả lời:
-Dạ. Bài này của anh Ninh “bài chòi” ngoài xóm Ga ạ!
-Sao lại gọi là Ninh bài chòi?
Một em ngồi đầu bàn đứng dậy giải thích:
-Dạ. Cái bài chòi này của anh Ninh ai cũng thích, cũng biết và hát được cả ạ!
Câu trả lời khiến tôi càng tò mò, bèn hỏi thêm một câu, giọng nửa đùa nửa thật: “Này, cái anh này mặt đen, mặt trắng ra sao mà sáng tác ra bài hát hay đến vậy?” thì đứa nào cũng ngớ mặt ra nhìn nhau bẽn lẽn mỉm cười. Vốn cũng là người sính nhạc, thích hát và biết một số làn điệu dân ca nhưng của đáng tội, cái thể loại bài chòi này, quả thật từ hồi nào tới giờ, đây mới là lần đầu tiên tôi được biết đến. Vậy là tuy chưa gặp mặt, tôi đã rất có “ấn tượng” với Ninh; định bụng sẽ tìm dịp làm quen, hẳn là thú vị lắm đây; nhưng rồi sau đó mãi bị cuốn vào công việc thường nhật nên chưa có cơ hội gặp gỡ, rồi hầu như quên bẵng.
Tết năm đó, trường chúng tôi cắm trại Tất niên và tổ chức một buổi diễn văn nghệ sân khấu. Trong khoảng thời gian này, Phú Hiệp còn thuộc vùng mất an ninh, nên bà con ở địa phương hiếm khi được dịp thưởng thức các loại hình giải trí vui chơi, hát hò; khi nghe đêm diễn văn nghệ của thầy trò trường Hòa Hiệp có đàn trống đình huỳnh, ai cũng háo hức mong ngóng trông chờ, coi như một ngày hội; nhiều thanh niên các thôn phụ cận còn xin tham gia một số tiết mục góp vui.
Là trưởng ban văn nghệ, đồng thời là người cầm đàn đệm cho ca sĩ “cây nhà lá vườn”, tôi phụ trách việc tập luyện luôn cho các cô cậu, trong đó có một “em” tóc chấm ngang vai mặt mày xinh xắn đang học nghề y tá, có chất giọng khá hay nhưng hát chưa được... chuẩn nhịp lắm nên tôi ráng bỏ công ra kèm cặp. Trai gái cùng tuổi đôi mươi, lòng xuân phơi phới gần gũi nhau dần dà ít nhiều nhen nhúm tình cảm, có lúc thăng hoa, tôi đã mường tượng rồi một ngày kia, nàng sẽ cười xinh xinh bên anh chồng thầy giáo. Nhưng… sự đời tưởng zdậy mà không hẳn là được zdậy. Chương trình văn nghệ diễn ra phần đầu khá suôn sẻ, tới nửa buổi bỗng một anh chàng từ đâu xuất hiện sau cánh gà tìm tôi nói trống không:
-Này! Có thể nhường “mình” cầm đàn cho cô... Th. hát được không?
-“Vậy sao được!” Tôi ú ớ từ chối: “Chúng tôi đã... tập tành đâu đó, bây giờ…!?” Nhưng anh ta cứ nằn nì:
-Thông cảm đi mà! Đây là “người quen”. Cô ấy là người tui… tui thương đó!
Tôi ngần ngừ một lúc, rồi không hiểu sao lại đồng ý trao đàn cho anh ta. Và kết quả tiết mục “Đêm buồn tỉnh lẻ”... bể đến thê thảm. Lý do đơn giản, anh ta chỉ quen chơi đàn thùng, khi chơi ghi-ta điện, âm thanh lạ quá nên quýnh quáng bị lỡ nhịp!
Tiết mục vừa chấm dứt, Th. quày quả bước xuống sân khấu vẻ mặt hầm hầm, chẳng nói chẳng rằng, “nguýt” tôi một cái muốn đứt con mắt, và lạnh lùng một ra đi không (thèm)... trở lại! Vậy là tôi đành phải hát bài ca con cá: Em ơi! Nếu mộng không thành thì… thôi để chia tay với mối tình chưa kịp bén rễ.
Sau buổi diễn hôm đó, chúng tôi kéo nhau ra bãi biển Lò Một trải bạt mở tiệc “khao quân” với nhau, gọi là ăn mừng thắng lợi. Không khí vừa sương sương, bỗng đâu một anh chàng đội mũ rơm, mang theo một cây đàn thùng sứt sẹo tới đứng bên, tay chống nạnh nói trổng: “Mình nhập bọn có được không?” Tức thì hai ba giọng đồng thanh mời gọi: “Được. Nhào zdô. Nhào zdô. Càng nhiều càng đông vui. Không sao đâu”. Vậy là cuộc chơi tiếp diễn. Được một lúc, hắn gõ gõ vào thùng đàn ra hiệu: “Mình làm một bổn giúp vui được không?” Lại hai ba giọng hùa theo: “Được, được quá đi chứ”. Chẳng cần màu mè phi-lô, hắn cất giọng đề-pa ngay: “Thân này, trách thân này, thân sao mà lận đận...”. Bầu không khí dường như hẫng đi chốc lát rồi tự nhiên sôi động hẳn lên. Ôi! Cái giọng khàn khàn, thô mộc, đặc sệt giọng “Nẫu” của anh ta trong bối cảnh bình dị chân quê ấy nghe sao mà “bốc” không chịu được. Vậy là cả bọn bắt đầu dòm trước dòm sau, thấy vật gì gần mình nhất là tiện tay vớ lấy, trưng dụng làm “bộ gõ” vừa đánh nhịp, vừa… la hét loạn xà ngầu. Nào lon bia, đồ hộp, muỗng nĩa, chén bát, đồ ăn thức uống… thôi thì tha hồ nhảy múa, vương vải lung tung; tới lúc tàn cuộc, “đứa” nào mình mẩy cũng mang đầy thương tích. Ôi! Đúng là một chiến trường tồi tệ!
Đó là lần đầu tiên tôi giáp mặt Ninh, người phá bỉnh mối tình vừa chớm nở, nhưng lại trở thành người bạn thân thiết sau này.
… Có lẽ “Trách phận” do lời lẽ chơn chất, âm điệu gần gũi với giới bình dân nên đã là một tiết mục đặc sắc được nhiều nghệ sĩ biểu diễn thành công và hấp dẫn người xem; khán giả thưởng thức thường được cười thỏa thuê, và vui... hết cỡ. Có nghệ sĩ khi tới trường đoạn bi thương còn thêm thắt: lấy từ trong túi một cái khăn đã nhúng nước, giả đò lau mắt rồi vắt chảy ròng ròng để gây cho cái cười thêm phần... ướt át! Có điều đáng buồn, dẫu nổi tiếng là vậy nhưng người cha đẻ ra đứa con tinh thần tuyệt vời này lại rất ít được người đời biết tới; trong thời buổi tranh tối tranh sáng còn có “Vị” khi đem “Trách phận” lên sàn diễn được người hâm mộ phỏng vấn, cứ cười cười (chơi trò đánh lận con đen) không xác nhận, mà cũng hỗng thèm phủ nhận mình có đúng là tác giả hay không. Phần Ninh, vốn là người trầm tĩnh, ít ồn ào khoe mẽ nên mỗi khi ngồi bù khú với bạn bè, nghe họ kháo chuyện và tức khí “giùm” mình vẫn cứ làm thinh, giữ vẻ bàng quang như đó là “chuyện” của thiên hạ, chỉ khi nào cao hứng mới lập lại trật tự bằng cách mở lời “Nẫu ca” để cho lũ nồi-niêu-soong-chảo được dịp nhảy múa, thêm vui cửa vui nhà thôi.
Tuy được nhiều người ưa chuộng là vậy, nhưng thật ra trước đây Nẫu ca Trách phận cũng chỉ mới phổ biến trong phạm vi hạn hẹp, phải tới khi anh Phan Bá Chức (cũng là bạn rất thân thiết của Ninh) biên soạn và ký âm lại, đem xuất bản, rồi nhiều nghệ sĩ biểu diễn, thu âm, phát thanh trên các phương tiện truyền thông thì mọi người trong nước và hải ngoại mới biết tới.
Tôi nhớ hình như khoảng năm 1984 có dịp vào Sài Gòn, ghé tiệm sách thấy một xấp nhạc rời (sau năm 75 loại nhạc rời hầu như biến mất) liền tò mò lật ra xem chợt bắt gặp cái tên Trách phận (Lời: Nguyễn Hữu Ninh – Ký âm: Phan Bá Chức) liền mua một bản đem về, hí hửng đạp xe qua Phú Hiệp gặp Ninh định khoe công trạng, không ngờ hắn vẻ mặt tỉnh bơ: “ Biết rồi, tao nhận trăm hai tiền nhuận bút (Chức gởi ra) nhậu sạch rồi còn gì”. Tẽn tò nhưng cũng thầm mừng cho Ninh có được người bạn quý.
Theo một số người am hiểu thì Nẫu ca Trách phận được viết theo điệu Xuân nữ, một làn điệu dân ca thuộc khu Nam Trung bộ, trong tập “Ca Dao&Dân ca trên vùng đất Phú Yên” cũng có in bài Trách Phận do nhạc sĩ Lương Văn Thanh ký âm theo điệu này. Còn hoàn cảnh sáng tác thì Ninh đáp: “Gì mà đao to búa lớn thế? Chẳng qua gặp lúc cao hứng viết ra, đem hát chơi rồi người ta thích, người ta truyền miệng chứ có gì đâu”. Vậy thì xin mạn phép vẽ ra một bối cảnh thế này: Dạo đó chiến tranh lan rộng ngày càng ác liệt. Phi trường Đông Tác phải mở lớn, chạy dài tới sát nách thôn Phú Hiệp, kéo theo những snach-bar mọc lên san sát để đáp ứng nhu cầu cho đám binh lính viễn chinh đồn trú bảo vệ. Có lẽ ở xóm Ga này, Ninh là người được tiếng có chữ nghĩa nên thỉnh thoảng các chị em ta (phần lớn đều nhà nghèo, thất học hoặc có thân phận lỡ làng) thường nhờ đọc giúp hoặc viết giùm thư từ cho người nhà hay bồ bịch, người yêu… vv. Phải chăng những mảnh đời trôi nổi, trái ngang, những nỗi niềm tâm sự u trầm uất nghẹn phơi bày ra trước mắt làm cho Ninh cám cảnh mà viết ra Trách phận?
Ngoài giao tình văn nghệ, Tôi và Ninh còn có chung một sở thích khác, ấy là ưa đi giang hồ vặt. Hồi còn dạy học ở Hòa Hiệp, một lần cùng bạn bè nhảy tàu vào Đại Lãnh chơi, bước xuống ga thấy cảnh biển-trời mây-núi đẹp quá, tôi cầm chiếc máy ảnh lia một vòng định chụp vài tấm hình kỷ niệm, xui sao một bà đang ngồi ị trong lùm cây gần đó hiểu lầm đứng dậy một tay xách quần, một tay chỉ chọt chửi một trận te tua vuốt mặt không kịp, khiến cả bọn kéo nhau chạy vắt giò lên cổ; tưởng đã yên chuyện, không ngờ lát sau còn bị mấy anh lính an ninh thiết lộ, chận đường đòi tịch thu máy ảnh; may sao, trong số đó có một người biết Ninh bài chòi can thiệp giùm mới thoát nạn.
Tôi còn được nghe một chuyện gần như giai thoại về Ninh; ấy là vào hè năm 197… Ninh cùng một nhóm bạn học ra Qui Nhơn (không phải thi vào trường Sư phạm như mấy người kia mà chỉ để rong chơi); tới ga Phước Lãnh, tàu dừng lại chờ khách lên-xuống. Ninh bâng quơ nhìn qua cửa sổ, thấy một ông già mù ngồi trước sân ga, van nài khản cả giọng chẳng ai cho, bèn đội mũ lác, tròng mắc kính đen (vật bất ly thân của hắn) vào rồi xách cây đàn thùng xuống xìa đít kế bên, lên tiếng… Trách phận, đến khi tàu chuyển bánh chạy tiếp, nghe đâu số tiền những người hảo tâm bỏ vào mũ ông già cũng hòm hòm đầy túi.
-“Nói thiệt, là bạn lâu năm của Ninh, tuy biết tính hắn có lúc “ngông ngông” nhưng…” Anh bạn kia vừa cười vừa dí dỏm kể: “nhưng gặp hoàn cảnh này mình cũng đành chào thua”. Chả biết anh chàng này có thêm mắm thêm muối ít nhiều gì chăng, nhưng tôi đoan chắc một điều: Nếu như Ninh đã lên tiếng than thân trách phận bằng Nẫu ca, người ta không móc hầu bao ủng hộ mới là chuyện lạ!
Lúc đó, tôi cũng tức cười, đía vào một câu:
-Đúng là con người ưa thương vay khóc mướn!
Đối với tôi, Trách phận là một bài hát kỷ niệm khó quên kể từ buổi đầu gặp gỡ. Sau này, dẫu nhiều lần được nghe những ca sĩ chuyên nghiệp hát với dàn nhạc đệm xôm tụ, nhưng chưa bao giờ tôi có được cái cảm giác thăng hoa như lần cùng nhau bù khú giữa bầu trời đêm thô mộc ngoài bãi cát Lò Một. Duy chỉ một lần nghe anh Nguyễn Đình Cai với chất giọng nhừa nhựa (do tuổi tác), hào hễn Trách phận góp vui trong buổi dạ tiệc đồng hương, mới chợt rưng rưng, bất ngờ vì thấy trên đất Mỹ giàu sang hoa lệ này, bà con mình vẫn còn thích nghe và hát Nẫu ca để nhớ về quê mẹ.
… Khoảng năm 2.00… nhân một cuộc hội thảo văn nghệ dân gian, nhóm đàn ca sáo thổi chúng tôi có tham gia minh họa một số bài dân ca ở sân trường Cao Đẳng Sư phạm Phú Yên, riêng Ninh (dẫu muộn màng) cũng được mời lên trình bày tác phẩm Nẫu ca Trách phận của mình nhưng hình như không cảm thấy hào hứng mấy.
*
Cuối cùng thì sự thể cũng đã xẩy ra y như nó phải thế, Ninh nhẹ nhàng đi về vùng trời miên viễn sau một một thời gian lâm trọng bệnh. Dạo này Ninh thường mang chiếc đàn YAMAHA (nghe đâu của người em từ nước ngoài gởi về tặng ông anh) tới nhà bạn bè hát một số bài do mình mới sáng tác, đáng tiếc gặp đâu bỏ đó nên không ai tập hợp lại được. Tiễn đưa Ninh đến tận nghĩa trang có cả những người bạn quen lẫn chưa quen nhưng ai ai cũng đều tỏ lòng thương tiếc. Có lẽ lúc sinh thời, Ninh cũng không ngờ tình cảm người ta dành cho mình ướt át đến thế. Đứng lơ ngơ giữa bầu trời lộng gió với ngổn ngang nỗi niềm tâm sự, Tôi bâng khuâng nhìn những khuôn mặt sướt mướt nhạt nhoà thoạt ẩn thoạt hiện xung quanh, bỗng dưng bần thần ngẫm ngợi: người ta mỗi khi nghe hay hát bài ca Trách phận thường cười đùa vui vẻ, nhưng không hiểu, có một lúc nào đó, sau những phút giây hả hê sung sướng, liệu có ai ứa được, dù chỉ một giọt nước mắt nhỏ nhoi cám cảnh cho thân phận của nhân vật (người chồng bị vợ bỏ quên) trong bài hát như Ninh đã hóa thân “thương vay khóc mướn”?!... Và, đằng sau than thân trách phận có còn điều gì đáng cho người đời suy gẫm xét soi??...

Viết như một nén nhang thắp tình bè bạn
San Jose tháng 01/2011
Nguyên Đạt