Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011

CHÉN MẮM CÒNG ẤM LÒNG ĐÔNG GIÁ


Mùa đông bất chợt trở về ôm lấy mùa thu chưa kịp bỏ đi, những gợn mây buồn vẫn mãi hoài ngự trị giữa bầu trời xám xịt do ảnh hưởng bởi cơn áp thấp nhiệt đới gần bờ hơn cả tuần nay. Cái rét lẫn vào cơn gió đầu mùa chưa đủ lạnh, nhưng cũng đủ làm cho những người xa xứ cảm thấy buồn buồn, nhớ nhớ về nơi chốn quê nhà thân thiết ngày xưa với những buổi theo cha đào bắt còng biển làm mắm cải thiện bữa ăn hằng ngày trong gia đình suốt khoảng đời ấu thơ gian khổ.
… Quê nhà tôi là một làng chài nhỏ bé thuộc vùng duyên hải miền Trung, nằm sát ven biển Tuy Hòa tên gọi Đông Tác. Hồi ấy, đoạn từ Mỹ Á đến Bãi Dài còn nguyên là những bãi cát trắng phau nối tiếp mọc đầy cây dại và rau muống biển; mỗi khi mùa đông tới, đây chính là nơi lý tưởng cho mấy chú còng biển (thường ở cách bờ khoảng một hai cây số) di cư vào, đào hang trú ẩn.
Mùa đông là mùa biển động, bà con làng chài không ra khơi thả lưới buông câu được nên rất nhàn rỗi; những gia đình nghèo nếu thiếu tiền đi chợ thì mắm còng chính là món ăn dễ kiếm, giúp bà con chế biến thêm vài món mặn miệng trong bữa cơm hằng ngày cho qua những ngày giá rét. Đối với lũ trẻ con lóc nhóc hiếu động và ham vui như chúng tôi, được theo người lớn đi bắt còng biển cũng là cái thú, nhiều hôm gió mưa tầm tã, người ướt như chuột lột, mình mẫy lạnh cóng nhưng ai nấy đều cảm thấy thỏa mãn sướng vui.
Còng biển thường đào hang sâu tới nửa mét, không vòng vèo lắt léo gì lắm nhưng muốn bắt được nó không hẳn là dễ, phải vừa dùng cuốc, dùng tay để đào thật nhanh, mỗi buổi chộp được khoảng năm chục con bỏ vào thùng thiếc cũng được gọi là giỏi; về nhà, nhín bớt năm mười con đem biếu hàng xóm láng giềng hoàn cảnh đơn chiếc ốm đau coi như san sẻ ít nhiều khó khổ với nhau. Mùa này còng biển không to con nhưng mình thon, thịt chắc, màu trắng, có gạch nhiều và đặc biệt là sạch vì chúng vốn không ăn tạp, chỉ ăn thuần cỏ non nên trước khi chế biến thành mắm chỉ cần bỏ vào nước rửa sạch, xỏ lòi chừng bảy, tám con vào một cái que vót nhọn rồi đem nướng; mùi chín vàng tỏa ra thơm lựng khắp nhà khiến mọi người tự nhiên cảm thấy thèm cơm, bụng đói cồn cào. Tiếp đến tách bỏ mu còng, vặt bỏ chân, chỉ để càng lớn và đem quết nhuyễn với lá é quế, xong, trộn nước mắm nhĩ giã ớt tỏi chanh đường. Sau khi chế biến xong, ta đã có một tô mắm còng màu vàng gạch, nước sền sệt, béo và mùi thơm rất đặc biệt, không phải là vị thơm của còng gió, còng cát hay cua đồng mà là một vị thơm đặc trưng của còng biển mùa biển động, ngon không chê được.
Tháng chín, tháng mười đến, cơn gió mùa đông trở về với những đợt gió se lạnh thường dừng chân bên cửa sổ, tiếng mưa rả rích ngoài hiên nhà tấu thành điệu nhạc trầm buồn man mác khiến lòng người thêm se sắt sầu thương; một tô mắm còng được đặt giữa mâm cơm nóng sốt cộng với dĩa rau lang hay rau muống luộc là một bữa ăn được gọi là “ hấp dẫn”, ngôi nhà đột nhiên ấm cúng hẳn lên làm ai cũng thấy ngon miệng, ních đến đầy bụng, bới “lủng cả nồi”.
Đối với dân nhậu thì bánh tráng nhúng, cuốn với rau sống chắm mắm còng cũng là món khoái khẩu của bà con bình dân quê tôi bên bếp lửa chiều đông mờ tối đấy bạn ạ!
Xa miền Đất Phú Trời Yên lâu ngày, được du lịch nhiều nơi, thậm chí bây giờ được may mắn qua định cư tận nước Mỹ (miền đất hứa bao người mong ước); được thưởng thức nhiều món ngon vật lạ, đặc sản của nhiều vùng miền nhưng hương vị của chén mắm còng mặn mòi ngày cũ nơi quê nhà vẫn còn mãi hoài đọng lại trong ký ức tôi…

Tháng 4/2009
ĐÔNG HẢI K9

TRÔNG VỀ QUÊ CŨ




Chiều chiều ra đứng bờ sông,
Trông về quê cũ nghe lòng buồn hiu
Nỗi buồn chẳng biết bao nhiêu
Cố hương lơ lửng như diều đứt dây


Bao năm lưu lạc nơi này
Bao giờ mới được có ngày hồi hương
Cho tôi tìm lại tên đường
Ngày xưa khuya sớm tôi thường đi qua

Chiều chiều trông phía trời xa
Bên kia biển rộng quê nhà Việt Nam
Cà Mau tới ải Nam Quan
Bốn ngàn năm đã chứa chan bao tình.

Bao giờ trở lại quê mình
Bao nhiêu xa cách bấy tình nước non
Bể dâu thân mẹ hao mòn
Muôn sâu ngàn mọt gậm mòn thịt da

Hồn từng cột mốc xót xa
Chân dung gấm vóc hôm qua đâu rồi

Hoài Hương Nguyễn Thị Thọ K10


Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

NGẢ RẼ ĐƯỜNG ĐỜI


Trong cơn hoảng loạn của những ngày cuối cuộc chiến tháng 3 năm 1975, tôi cũng như những người dân hai tỉnh Quảng Trị Thừa Thiên khác, tay xách nách mang kéo nhau chạy vào Đà Nẵng để sau đó tìm cách xuôi Nam mong tìm con đường sống, nhưng vì bụng mang dạ chửa, đành phải quay về trình diện Ty Tiểu học xin trở lại nhiệm sở. Nhận lớp dạy được một tháng lại xin nghỉ hộ sản, định nghỉ trước một tuần để chuẩn bị ai dè mới ba hôm đã đến ngày sinh.
Huế mớí đổi chủ khoảng hơn một tháng, thiên hạ di tản khắp nơi, có người lọt ra được nước ngoài, người còn ở lại Sài Gòn, Nha Trang… chưa trở về. Bệnh viện Huế cũng vậy, Bác sĩ, nhân viên cũ chỉ còn lại một số rất ít, thay vào đó là những y công, bác sĩ, y tá toàn người miệt ngoài giọng nói lạ hoắc nên khi chuyển bụng vào Bệnh viện Trung ương Huế nằm chờ, tôi lo sợ đủ điều. Sinh nở lần đầu không là chuyện dễ, phải đợi qua một đêm đến trưa hôm sau, sắp lên bàn sinh thì may đâu, một nữ hộ sinh Quốc gia xuất hiện, bao lo âu sợ hãi không còn, thay vào đó là nỗi vui mừng khôn kể. Gặp được cô đỡ người Huế, nhờ Trời thương Phật độ mọi sự tiếp theo sau xẩy ra tốt đẹp, mẹ tròn con vuông.
Ba tháng nghỉ hộ sản qua mau, tôi lại phải tay xách nách mang bồng con trở lại trường ở tập thể, tiếp tục công tác. Sáng dạy, chiều lo giáo án và đủ thứ chuyện linh tinh khác; giờ ra chơi lại phải ba chân bốn cẳng chạy về cho con bú. Giày cao gót, áo quần tha thướt nay đã hết thời, thay vào đó là áo bà ba quần đen cũng tiện cho việc chạy nhanh về với con.
Sau tháng tư năm 75, hầu hết giáo viên phải bán đi một số đồ điện như quạt máy, bàn ủi và những bộ áo dài, áo lông, quần tây và vài thứ vặt vảnh khác để có thêm tiền sinh sống. Một số được sửa lại thành bà ba để mặc với quần chéo đen được mua theo tiêu chuẩn tem phiếu hai năm 5m do “nhà nước” cấp. May nhờ quần áo trước 75 còn lại khá nhiều nên cũng dùng được khoảng hơn chục năm. Ăn thiếu nhưng mặc cũng tạm đủ. Nhiều bạn chưa quen với cách ăn mặc qúa đơn giản, muốn thẳng thớm một chút cứ việc xếp vuốt áo quần đàng hoàng dằn dưới gôí là sáng ngày có đồ thẳng nếp để lên lớp.
Nơi tôi dạy là một cơ sở lẻ ở đình Phổ Lại cách trường chính khoảng 5 phút chạy bộ. Trường tôi nằm bên tỉnh lộ, từ Huế theo QL1 hướng bắc, đến An Lỗ rẽ phải về phía chợ Sịa, một chợ lớn ở thị trấn Sịa thuộc huyện Quảng Điền. Giáo viên dạy các trường quanh vùng An Lỗ, Sịa, một số đạp xe đạp, số khác đi xe đò, các thầy cô độc thân mỗi tuần lên Huế một lần, về với gia đình để được bồi dưỡng vì cả tuần ở lại trường ăn cơm tập thể với mấy con cá “long hội” và canh” toàn quốc “ nên không đủ dinh dưỡng và sức khỏe tốt để lên lớp.
Ngày ngày chị nuôi phục vụ hai lần cơm trưa và tối cho khoảng ba chục giáo viên ở tập thể, đa số là các thầy cô gốc ở thành phố; mỗi lần một nồi cơm lớn gạo tồn kho lâu đời trộn với sắn, khoai hay bo bo, it có cơm rời vì cơm bao quanh những chất độn. Mỗi bàn ăn khoảng từ 4 đến 6 ngườì gồm một tô canh rau, môn hay nưa gì đó nấu loãng và một dĩa cá vụn hay tôm tép; những người ăn nhanh còn có chút mặn miệng, riêng tôi vì tội ăn chậm nên luôn bị thiệt thòi, chỉ nếm được chút hương vị nước canh còn lại ở đáy tô, chưa bao giờ biết cọng rau non già cứng mềm ra sao.
Cũng may nhờ bản chất siêng năng, dạy dỗ đàng hoàng, năm nào cũng đạt danh hiệu giáo viên tiên tiến xuất sắc; điều này có thể không nói lên được điều gì, nhưng tôi nghĩ thời nào cũng vậy, nếu thầy cô biết trang bị cho học sinh có kiến thức để ứng xử với đời, dạy cho con em biết những điều nhân nghĩa để sau này trở thành một người tốt, biết phân biệt trắng-đen, phải-trái là không hổ thẹn với lương tâm, là làm tròn thiên chức nhà giáo, không phụ với ngôi trường Sư phạm Qui Nhơn, nơi mình đã xuất thân là được rồi.
Sau 4 năm chịu thương chịu khó ở trường xa, tôi may mắn hơn các bạn khác, được hiệu trưởng sở tại thương tình đề nghị với Hội đồng Ty Tiểu học cho chuyển lên Huế, gần nhà, thoát nạn cơm tập thể lại được sống trong gia đình có anh em hổ trợ cả tinh thần lẫn vật chất (mặc dầu thời đó ai cũng khó khăn chỉ giúp nhau rất khiêm tốn nhưng cũng được an ủỉ rất nhiều).
Về nhà, mọi việc thuận lợi, con đã lên bốn có thể gởi vào mẫu giáo nhỏ; đời sống có phần ổn định nên đầu óc bớt căng thẳng hơn. Nhiều lúc nhớ lại đoạn đường đã qua mà cảm thấy nao lòng; nội quy của nhà trường không ai được nấu riêng hao tốn củi lửa nên muốn cho con có bữa ăn (không trộn lẫn chất độn) hằng ngày, tôi đã nẩy ra sáng kiến: lấy một túm gạo đem vo sạch, bỏ vào túi vải thắt lại đem gởỉ vào nồì cơm tập thể cho tiện việc. Muốn kho chút thịt cá cho con thì phảỉ chờ tới cuối tuần bếp tập thể nghỉ chỉ còn lại mấy gia đình có con nhỏ, và mấy giáo viên người Quảng Bình vào ở cố định nấu nướng luôn. Có con nhỏ, việc di chuyển khó khăn nên cứ khoảng năm sáu tuần mới về nhà một lần lo cụ bị vài món đồ khô để dành cho con ăn lần. Tội nghiệp, con cái nhỏ dại cũng phải chịu khổ lây. Có một lần, và chỉ một lần độc nhất tôi nhớ mãi. Suốt ngày hôm đó ôm con đi họp đến chiều về không còn chút gì, đành phải rưới nước mắm vào cơm cho nó ăn tạm. Nhìn đứa con thơ há miệng, cố trệu trạo nhai nuốt mấy muỗng cơm thiếu dinh dưỡng mà lòng đau như cắt, không kiềm chế được, tôi đã mặc tình để cho những dòng nước mắt tuôn rơi lả chả.
Tiêu chuẩn lương thực được cấp cho giáo viên mỗi tháng lúc đầu là 15kg (gạo +khoai-sắn+bobo), con ăn theo 5kg nhưng sau vì kinh tế khó khăn nên bớt xuống còn 18kg cho cả hai. Biết lương thực như vậy không đủ nuôi sống nên các xã có kế hoạch cung cấp ruộng và đất khô cho nhà trường để giáo viên cải thiện đời sống. Thế là các thầy-cô nay phải bắt buộc học thêm nghề mới: làm nông. Từ nhỏ chỉ biết cắp sách tới trường, lớn ra đời đi dạy, quen với phấn trắng bảng đen chưa bao giờ biết việc đồng áng, nay phải tham gia sản xuất lao động chân tay: cuốc đất trồng khoai sắn, không quen làm lụng tay chân nên bàn tay phồng lên, đêm về phải lo bóp muối để sáng mai làm tiếp. Khổ nhất là đi cấy lúa cắm đầu xuống đất không quen nên rất khổ, khi gặp đỉa đeo thì hồn phách lên mây, mặt tái xanh, miệng la oai oái.
Để giảm nhẹ công việc, trường thuê trâu cày ruộng trước, giáo viên nhổ mạ trước một ngày, ngày sau bắt đầu giăng hàng ngang tiến quân xuống ruộng. Có bạn sức yếu, nhát gan mới tớí bờ đã té xỉu chỉ vì thấy mấy chú đỉa bơi dưới ruộng, không vì hãi sợ mà bỏ cuộc được, rốt cuộc cả đoàn cùng lội xuống cố gắng làm việc. Có giây giăng sẵn chỉ cắm mạ xuống sâu cho thẳng hàng thì dễ qúa nhưng hôm đầu mới cấy được mấy bụi, đột nhiên thấy nhột nhột, tôi ngoái nhìn xuống thì eo ôi! một con đỉa to tổ bố đang bám chặt vào bắp chân, hoảng qúa, tôi vừa nhảy tung tóe vừa khóc la ỏm tỏi, may đâu anh hiệu trưởng người Quảng Bình đã quen viêc đồng áng bước tới, cười cười bảo: “Bình tĩnh, bình tĩnh để tôi bắt cho”, anh ta liền nhổ nước miếng vào và tuột con vật hút máu một cách nhẹ nhàng. Ôi! Một phen hú hồn, mãi hồi lâu tôi mới lấy lại được bình tĩnh và tiếp tục công việc.
Tiếp theo ngày cấy lúa là ba bốn ngày đau, toàn thân rã rời, bước đi không vững, người như bị ai giần chập nát thịt da. Cấy mạ được một hai tháng gì đó lại tập họp làm cỏ lúa, lại phải lội xuống ruộng lần nữa; tuy sợ đỉa nhưng ở thế bắt buộc nên rồi phải cùng nhau làm, có làm thì mới có công điểm, mới được chia lúa; tránh việc không những không được phần lúa lại còn bị kiểm điểm, bị phê bình không chấp hành chính sách cải thiện đời sống của nhà nước, thôi thì khổ thân còn hơn khổ não.
Khi lúa đã chin vàng trĩu hạt không còn sức chịu đựng được ngã rạp theo chiều gíó, một lần nữa đoàn quân lại đổ bộ xuống ruộng với tay liềm tay hái lao động gặt hái đem về rồi đua nhau đập lúa, phơi lúa, phơi rơm đầy cả sân trường vào những ngày học sinh nghỉ, cô thầy chia phiên nhau cào lúa, trở lúa, phơi rơm tấp vào bếp tập thể; lúa được chia phần theo công điểm. Tiếng là làm để cải thiện đời sống nhưng thực tế chia chác chẳng bao nhiêu mà mệt hết hơi. Lần đầu tiên trong đời sau bao nhiêu năm miệt mài sách vở trường lớp, chân giày tay dù, tưởng đâu chỉ biết “trồng người” nay lại biết thêm nghề “trồng cây” để giải quyết bao tử. Thôi cũng nên “cám ơn đời” vì dẫu sao mình cũng có thêm chút vốn liếng và kinh nghiệm sống.
Ngoài số hàng theo tiêu chuẩn tem phiếu, mỗi tháng giáo viên còn được mua hai góí trà, hai bao thuốc lá Tam Đảo, vài trăm gram đường, thỉnh thoảng có kem đánh răng. Được bao nhiêu đều đem bán hết để có thêm tí tiền mua thức ăn, vì thế giáo viên ai cũng thuộc nằm lòng mấy câu thơ mà chẳng biết người nào là tác giả:
Nhà trường nhường trà uống nước trong.
Thầy giáo tháo giầy mang dép lốp.
Hoặc: Giáo chức dứt cháo đón xuân sang… vv… và… vv…
Sau 75, cũng vì đời sống không ổn định nên có nhiều gia đình hai vợ chồng cùng là giáo viên lại đông con, vì chạy giặc mất sạch sành sanh, trở về với hai bàn tay trắng, nheo nhóc đến tận cùng phảỉ kiếm sống bằng đủ loại ngành nghề, gặp người quen hỏi chuyện: -Bữa ni làm gì? Bèn ngỏn ngoẽn trả lời: -Thợ đụng!
-Nè. Thợ đụng là gì hả?
-Là… Là đụng gì làm nấy đó mà…
Ngôi trường ở vùng đất thấp gần đồng ruộng nên cứ đến mùa mưa là phải đôi ba lần dọn lụt. Nếu lụt nhỏ thì còn đỡ, chỉ việc chuyển đồ đạc từ nhà tập thể lên các lớp học có nền cao hơn. Ai có con nhỏ ở chung phòng, kê hai ba bàn học sinh lại làm giường, kiếm chỗ đóng đinh lên tường để giăng mùng, sống dã chiến cho qua những ngày nước lớn.
Một lần nước bắt đầu lớn, tôi lo chuyển đồ dùng lên lớp, tay bưng lỉnh kỉnh các thứ, miệng dặn đứa con ba tuổi: ”Đứng yên đó, mạ bưng đồ lên chạy xuống đón con liền”; không ngờ khoảng năm ba phút gì đó, vừa chạy xuống thấy thằng bé đang bơi trước thềm nhà tập thể, xuôi theo dòng nước chảy về phía ruộng, tôi la thất thanh, run lập cập, các bạn chạy ùa tới bồng lên để vào giường vừa quýnh quáng thay quần áo vừa hú hồn gọi vía, e thằng nhỏ hồn xiêu, phách lạc mà trở thành… lú lẫn đi chăng?! Còn tôi lúc đó chỉ biết ngồi khóc tức tưởi. Cũng may Trời thương Phật độ nên sau đó cháu vẫn bình thường.
Một lần lụt lớn, những người có con mọn được ưu tiên dọn vào đình Phổ Lại, chỗ làng thờ phượng giờ đã trưng dụng làm lớp học, đó là chỗ cao nhất cách trường chính vài trăm mét. Đang mang nặng đồ đạc trên hai vai lội vào đình, thình lình thấy con rắn bằng chiếc đũa bơi theo, hồn vía như lên mây, may sao còn biết nhanh trí, dùng chiếc dép nhựa xua nó đi, qua một phen khiếp sợ. Tối hôm đó, mẹ con ôm nhau ngủ trên mặt bàn, mùng dằn dưới chiếu đàng hoàng thế mà nửa đêm bỗng nghe rớt cái “bịch” cùng tiếng khóc thét, cùng lúc đó mẹ con bạn H. nằm bàn kề bên la lên: “Cu T. rớt chị V. ơi”. Tôi giật mình đánh thót, mắt nhắm mắt mở quờ quạng bồng con lên, may sao, nhờ vướng mùng nên cháu không hề hấn gì chỉ vì thất kinh nên khóc ré đó thôi.
Bao gian nan lao lý qua rồi, giờ đây ôn lại đôi lúc tôi cũng tự phục mình và tất cả những người đàn bà cùng thời, cùng hoàn cảnh đã cố gắng vượt qua gian lao thử thách, không chịu ngã qụi trước mọi thử thách của cuộc đờì để tồn tại, để chờ ngày đoàn tụ với chồng con mãn hạn tù đày “cải tạo”. Viết đến đây nhắc nhớ lại câu nói rất thực tế của thầy dạy môn giáo dục cộng đồng ngày nào: “Người giáo viên phải biết thích nghi với mọi hoàn cảnh xã hội”. Rõ ràng, những kiến thức các thầy cô truyền thụ ở trường Sư phạm trước đây vẫn tiềm tàng trong chúng ta, khi ra đời xàì nó một cách tự nhiên, biết ứng xử đúng theo từng hoàn cảnh. Tiếc rằng sau bao cơn sóng gió, cuộc sống lao đao, đã không có cơ hội để gặp lại các thầy cô, để thăm hỏỉ chứ đừng nóí chi đến chuyện đền ơn, đành sống vong ân bội nghĩa ngoài ý muốn và tự sám hối.
Tất cả nay đã luì vào quá khứ. Đa tạ ơn trên vì Trời dành còn có hôm nay cho chúng ta được hít thở không khí tự do nơi quê hương thứ hai này. Tuổi đời ở ngưỡng cửa thất thập cổ lai chỉ biết :
“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta còn thêm ngày nữa để yêu thương”
Xin mượn bốn câu Kiều của Cụ Nguyễn Du để kết thúc những tâm tình của người viết:
Trời dành còn có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời
………………………………………
Lời quê góp nhặt giông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.


Sacramento, đầu thu 2011
Vinh nguyen (K4 SPQN)

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

TỰ TÌNH LỤC BÁT

BỒI HỒI

Nửa đêm giữa phố ngó trời
Ngó đời lặng lẽ bên tôi đứng ngồi
Tuổi xanh chừ đã qua rồi
Tháng năm ngó lại bồi hồi phố khuya

Minh thiện Nguyễn đình Diệm K5

KHOẢNG LẶNG



Lặng nhìn mái tóc hoa râm
Ta ngồi nuối tiếc gọi thầm tuổi xuân
Bên thềm vạt nắng bâng khuâng
Bên trời mây núi rưng rưng giọt sầu



Sương trinh rơi xuống mái đầu
Giấc mơ bỗng hoá xanh mầu thời gian
Mưa theo cơn gió đại ngàn
Rưới lên biển nhớ ngập tràn cung thương


Nguyên Đạt K5

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

KHÓC CƯỜI VỚI NGƯỜI THƯƠNG VAY


Nguyên Đạt K5


Tản mạn với Ng. Hữu Ninh-Người viết lời Nẫu ca Trách phận

Từ lâu tôi đã muốn viết đôi điều về anh bạn Nguyễn Hữu Ninh, người sáng tác phần lời “Nẫu ca” Trách phận, một bài hát không những được người Phú Yên mà còn nhiều bà con vùng miền khác rất thích nghe và hát nhưng quả là khó, bởi Ninh là một con người khá đặc biệt, có cá tính lại được nhiều người biết tới; họ hoặc là bạn ở quê, bạn cùng trường, bạn văn nghệ hay là những người đã từng cùng Ninh qua một chặng đường nào đó; giả như có gì sai sót, không khéo người ta sẽ cho là hoa ngôn, xảo ngữ hoặc là thấy người sang bắt quàng làm họ…vv… nên cứ lần lữa mãi cho tới bây giờ.
Năm 1968, sau khi tốt nghiệp Sư phạm Qui Nhơn, tôi chọn nhiệm sở tỉnh Phú Yên và được điểu về dạy học ở trường Tiểu học Hòa Hiệp (người ta quen gọi là Trường Cây Bảng) thôn Phú Hiệp. Mỗi sáng thứ bảy, tôi thường để ra khoảng 15 phút cuối của tiết Sinh hoạt học đường kể chuyện cổ tích, tập hát hoặc cùng học trò làm những cuộc “Văn nghệ bỏ túi”, coi như là món quà vui trước ngày tạm nghỉ.
Một lần, tôi cao hứng tuyên bố: “Bây giờ thầy trò mình cùng hát, vậy em nào biết cải lương, tân nhạc, dân ca, ngâm thơ... gì gì đó chẳng hạn, biểu diễn cho bạn bè cùng nghe cho vui”. Chưa dứt lời đã có hàng chục cánh tay hào hứng đưa lên. Tôi chỉ định hú họa một em, em này mạnh dạn đứng dậy tự giới thiệu:
-Thưa thầy! Em xin hát bài “Trách phận”.
Rồi không cần lấy giọng, em “zdô” liền: Thân thì trách thân (này), thân sao mà lận đận. Mình mà trách mình (này), số phận...
Vừa tới đây, bất đồ cả lớp cùng reo lên: “Bài này em cũng biết, em cũng biết…”. Rồi chẳng ai bảo ai, đồng loạt tiếp lời: … số phận sao cứ hẩm hiu. Bởi thân tôi, tôi cơ khổ tôi eo nghèo, nên vợ tôi nó không ở nữa, (mà) nó theo… Mỹ rầu… (rập ràng y như đã dày công luyện tập từ trước) cho tới đoạn kết của bài hát khiến tôi rất ngạc nhiên, tò mò hỏi:
-Ủa! Sao em nào cũng biết hát bài này vậy hả?
Cả lớp cùng đồng loạt (lại đồng loạt) trả lời:
-Dạ. Bài này của anh Ninh “bài chòi” ngoài xóm Ga ạ!
-Sao lại gọi là Ninh bài chòi?
Một em ngồi đầu bàn đứng dậy giải thích:
-Dạ. Cái bài chòi này của anh Ninh ai cũng thích, cũng biết và hát được cả ạ!
Câu trả lời khiến tôi càng tò mò, bèn hỏi thêm một câu, giọng nửa đùa nửa thật: “Này, cái anh này mặt đen, mặt trắng ra sao mà sáng tác ra bài hát hay đến vậy?” thì đứa nào cũng ngớ mặt ra nhìn nhau bẽn lẽn mỉm cười. Vốn cũng là người sính nhạc, thích hát và biết một số làn điệu dân ca nhưng của đáng tội, cái thể loại bài chòi này, quả thật từ hồi nào tới giờ, đây mới là lần đầu tiên tôi được biết đến. Vậy là tuy chưa gặp mặt, tôi đã rất có “ấn tượng” với Ninh; định bụng sẽ tìm dịp làm quen, hẳn là thú vị lắm đây; nhưng rồi sau đó mãi bị cuốn vào công việc thường nhật nên chưa có cơ hội gặp gỡ, rồi hầu như quên bẵng.
Tết năm đó, trường chúng tôi cắm trại Tất niên và tổ chức một buổi diễn văn nghệ sân khấu. Trong khoảng thời gian này, Phú Hiệp còn thuộc vùng mất an ninh, nên bà con ở địa phương hiếm khi được dịp thưởng thức các loại hình giải trí vui chơi, hát hò; khi nghe đêm diễn văn nghệ của thầy trò trường Hòa Hiệp có đàn trống đình huỳnh, ai cũng háo hức mong ngóng trông chờ, coi như một ngày hội; nhiều thanh niên các thôn phụ cận còn xin tham gia một số tiết mục góp vui.
Là trưởng ban văn nghệ, đồng thời là người cầm đàn đệm cho ca sĩ “cây nhà lá vườn”, tôi phụ trách việc tập luyện luôn cho các cô cậu, trong đó có một “em” tóc chấm ngang vai mặt mày xinh xắn đang học nghề y tá, có chất giọng khá hay nhưng hát chưa được... chuẩn nhịp lắm nên tôi ráng bỏ công ra kèm cặp. Trai gái cùng tuổi đôi mươi, lòng xuân phơi phới gần gũi nhau dần dà ít nhiều nhen nhúm tình cảm, có lúc thăng hoa, tôi đã mường tượng rồi một ngày kia, nàng sẽ cười xinh xinh bên anh chồng thầy giáo. Nhưng… sự đời tưởng zdậy mà không hẳn là được zdậy. Chương trình văn nghệ diễn ra phần đầu khá suôn sẻ, tới nửa buổi bỗng một anh chàng từ đâu xuất hiện sau cánh gà tìm tôi nói trống không:
-Này! Có thể nhường “mình” cầm đàn cho cô... Th. hát được không?
-“Vậy sao được!” Tôi ú ớ từ chối: “Chúng tôi đã... tập tành đâu đó, bây giờ…!?” Nhưng anh ta cứ nằn nì:
-Thông cảm đi mà! Đây là “người quen”. Cô ấy là người tui… tui thương đó!
Tôi ngần ngừ một lúc, rồi không hiểu sao lại đồng ý trao đàn cho anh ta. Và kết quả tiết mục “Đêm buồn tỉnh lẻ”... bể đến thê thảm. Lý do đơn giản, anh ta chỉ quen chơi đàn thùng, khi chơi ghi-ta điện, âm thanh lạ quá nên quýnh quáng bị lỡ nhịp!
Tiết mục vừa chấm dứt, Th. quày quả bước xuống sân khấu vẻ mặt hầm hầm, chẳng nói chẳng rằng, “nguýt” tôi một cái muốn đứt con mắt, và lạnh lùng một ra đi không (thèm)... trở lại! Vậy là tôi đành phải hát bài ca con cá: Em ơi! Nếu mộng không thành thì… thôi để chia tay với mối tình chưa kịp bén rễ.
Sau buổi diễn hôm đó, chúng tôi kéo nhau ra bãi biển Lò Một trải bạt mở tiệc “khao quân” với nhau, gọi là ăn mừng thắng lợi. Không khí vừa sương sương, bỗng đâu một anh chàng đội mũ rơm, mang theo một cây đàn thùng sứt sẹo tới đứng bên, tay chống nạnh nói trổng: “Mình nhập bọn có được không?” Tức thì hai ba giọng đồng thanh mời gọi: “Được. Nhào zdô. Nhào zdô. Càng nhiều càng đông vui. Không sao đâu”. Vậy là cuộc chơi tiếp diễn. Được một lúc, hắn gõ gõ vào thùng đàn ra hiệu: “Mình làm một bổn giúp vui được không?” Lại hai ba giọng hùa theo: “Được, được quá đi chứ”. Chẳng cần màu mè phi-lô, hắn cất giọng đề-pa ngay: “Thân này, trách thân này, thân sao mà lận đận...”. Bầu không khí dường như hẫng đi chốc lát rồi tự nhiên sôi động hẳn lên. Ôi! Cái giọng khàn khàn, thô mộc, đặc sệt giọng “Nẫu” của anh ta trong bối cảnh bình dị chân quê ấy nghe sao mà “bốc” không chịu được. Vậy là cả bọn bắt đầu dòm trước dòm sau, thấy vật gì gần mình nhất là tiện tay vớ lấy, trưng dụng làm “bộ gõ” vừa đánh nhịp, vừa… la hét loạn xà ngầu. Nào lon bia, đồ hộp, muỗng nĩa, chén bát, đồ ăn thức uống… thôi thì tha hồ nhảy múa, vương vải lung tung; tới lúc tàn cuộc, “đứa” nào mình mẩy cũng mang đầy thương tích. Ôi! Đúng là một chiến trường tồi tệ!
Đó là lần đầu tiên tôi giáp mặt Ninh, người phá bỉnh mối tình vừa chớm nở, nhưng lại trở thành người bạn thân thiết sau này.
… Có lẽ “Trách phận” do lời lẽ chơn chất, âm điệu gần gũi với giới bình dân nên đã là một tiết mục đặc sắc được nhiều nghệ sĩ biểu diễn thành công và hấp dẫn người xem; khán giả thưởng thức thường được cười thỏa thuê, và vui... hết cỡ. Có nghệ sĩ khi tới trường đoạn bi thương còn thêm thắt: lấy từ trong túi một cái khăn đã nhúng nước, giả đò lau mắt rồi vắt chảy ròng ròng để gây cho cái cười thêm phần... ướt át! Có điều đáng buồn, dẫu nổi tiếng là vậy nhưng người cha đẻ ra đứa con tinh thần tuyệt vời này lại rất ít được người đời biết tới; trong thời buổi tranh tối tranh sáng còn có “Vị” khi đem “Trách phận” lên sàn diễn được người hâm mộ phỏng vấn, cứ cười cười (chơi trò đánh lận con đen) không xác nhận, mà cũng hỗng thèm phủ nhận mình có đúng là tác giả hay không. Phần Ninh, vốn là người trầm tĩnh, ít ồn ào khoe mẽ nên mỗi khi ngồi bù khú với bạn bè, nghe họ kháo chuyện và tức khí “giùm” mình vẫn cứ làm thinh, giữ vẻ bàng quang như đó là “chuyện” của thiên hạ, chỉ khi nào cao hứng mới lập lại trật tự bằng cách mở lời “Nẫu ca” để cho lũ nồi-niêu-soong-chảo được dịp nhảy múa, thêm vui cửa vui nhà thôi.
Tuy được nhiều người ưa chuộng là vậy, nhưng thật ra trước đây Nẫu ca Trách phận cũng chỉ mới phổ biến trong phạm vi hạn hẹp, phải tới khi anh Phan Bá Chức (cũng là bạn rất thân thiết của Ninh) biên soạn và ký âm lại, đem xuất bản, rồi nhiều nghệ sĩ biểu diễn, thu âm, phát thanh trên các phương tiện truyền thông thì mọi người trong nước và hải ngoại mới biết tới.
Tôi nhớ hình như khoảng năm 1984 có dịp vào Sài Gòn, ghé tiệm sách thấy một xấp nhạc rời (sau năm 75 loại nhạc rời hầu như biến mất) liền tò mò lật ra xem chợt bắt gặp cái tên Trách phận (Lời: Nguyễn Hữu Ninh – Ký âm: Phan Bá Chức) liền mua một bản đem về, hí hửng đạp xe qua Phú Hiệp gặp Ninh định khoe công trạng, không ngờ hắn vẻ mặt tỉnh bơ: “ Biết rồi, tao nhận trăm hai tiền nhuận bút (Chức gởi ra) nhậu sạch rồi còn gì”. Tẽn tò nhưng cũng thầm mừng cho Ninh có được người bạn quý.
Theo một số người am hiểu thì Nẫu ca Trách phận được viết theo điệu Xuân nữ, một làn điệu dân ca thuộc khu Nam Trung bộ, trong tập “Ca Dao&Dân ca trên vùng đất Phú Yên” cũng có in bài Trách Phận do nhạc sĩ Lương Văn Thanh ký âm theo điệu này. Còn hoàn cảnh sáng tác thì Ninh đáp: “Gì mà đao to búa lớn thế? Chẳng qua gặp lúc cao hứng viết ra, đem hát chơi rồi người ta thích, người ta truyền miệng chứ có gì đâu”. Vậy thì xin mạn phép vẽ ra một bối cảnh thế này: Dạo đó chiến tranh lan rộng ngày càng ác liệt. Phi trường Đông Tác phải mở lớn, chạy dài tới sát nách thôn Phú Hiệp, kéo theo những snach-bar mọc lên san sát để đáp ứng nhu cầu cho đám binh lính viễn chinh đồn trú bảo vệ. Có lẽ ở xóm Ga này, Ninh là người được tiếng có chữ nghĩa nên thỉnh thoảng các chị em ta (phần lớn đều nhà nghèo, thất học hoặc có thân phận lỡ làng) thường nhờ đọc giúp hoặc viết giùm thư từ cho người nhà hay bồ bịch, người yêu… vv. Phải chăng những mảnh đời trôi nổi, trái ngang, những nỗi niềm tâm sự u trầm uất nghẹn phơi bày ra trước mắt làm cho Ninh cám cảnh mà viết ra Trách phận?
Ngoài giao tình văn nghệ, Tôi và Ninh còn có chung một sở thích khác, ấy là ưa đi giang hồ vặt. Hồi còn dạy học ở Hòa Hiệp, một lần cùng bạn bè nhảy tàu vào Đại Lãnh chơi, bước xuống ga thấy cảnh biển-trời mây-núi đẹp quá, tôi cầm chiếc máy ảnh lia một vòng định chụp vài tấm hình kỷ niệm, xui sao một bà đang ngồi ị trong lùm cây gần đó hiểu lầm đứng dậy một tay xách quần, một tay chỉ chọt chửi một trận te tua vuốt mặt không kịp, khiến cả bọn kéo nhau chạy vắt giò lên cổ; tưởng đã yên chuyện, không ngờ lát sau còn bị mấy anh lính an ninh thiết lộ, chận đường đòi tịch thu máy ảnh; may sao, trong số đó có một người biết Ninh bài chòi can thiệp giùm mới thoát nạn.
Tôi còn được nghe một chuyện gần như giai thoại về Ninh; ấy là vào hè năm 197… Ninh cùng một nhóm bạn học ra Qui Nhơn (không phải thi vào trường Sư phạm như mấy người kia mà chỉ để rong chơi); tới ga Phước Lãnh, tàu dừng lại chờ khách lên-xuống. Ninh bâng quơ nhìn qua cửa sổ, thấy một ông già mù ngồi trước sân ga, van nài khản cả giọng chẳng ai cho, bèn đội mũ lác, tròng mắc kính đen (vật bất ly thân của hắn) vào rồi xách cây đàn thùng xuống xìa đít kế bên, lên tiếng… Trách phận, đến khi tàu chuyển bánh chạy tiếp, nghe đâu số tiền những người hảo tâm bỏ vào mũ ông già cũng hòm hòm đầy túi.
-“Nói thiệt, là bạn lâu năm của Ninh, tuy biết tính hắn có lúc “ngông ngông” nhưng…” Anh bạn kia vừa cười vừa dí dỏm kể: “nhưng gặp hoàn cảnh này mình cũng đành chào thua”. Chả biết anh chàng này có thêm mắm thêm muối ít nhiều gì chăng, nhưng tôi đoan chắc một điều: Nếu như Ninh đã lên tiếng than thân trách phận bằng Nẫu ca, người ta không móc hầu bao ủng hộ mới là chuyện lạ!
Lúc đó, tôi cũng tức cười, đía vào một câu:
-Đúng là con người ưa thương vay khóc mướn!
Đối với tôi, Trách phận là một bài hát kỷ niệm khó quên kể từ buổi đầu gặp gỡ. Sau này, dẫu nhiều lần được nghe những ca sĩ chuyên nghiệp hát với dàn nhạc đệm xôm tụ, nhưng chưa bao giờ tôi có được cái cảm giác thăng hoa như lần cùng nhau bù khú giữa bầu trời đêm thô mộc ngoài bãi cát Lò Một. Duy chỉ một lần nghe anh Nguyễn Đình Cai với chất giọng nhừa nhựa (do tuổi tác), hào hễn Trách phận góp vui trong buổi dạ tiệc đồng hương, mới chợt rưng rưng, bất ngờ vì thấy trên đất Mỹ giàu sang hoa lệ này, bà con mình vẫn còn thích nghe và hát Nẫu ca để nhớ về quê mẹ.
… Khoảng năm 2.00… nhân một cuộc hội thảo văn nghệ dân gian, nhóm đàn ca sáo thổi chúng tôi có tham gia minh họa một số bài dân ca ở sân trường Cao Đẳng Sư phạm Phú Yên, riêng Ninh (dẫu muộn màng) cũng được mời lên trình bày tác phẩm Nẫu ca Trách phận của mình nhưng hình như không cảm thấy hào hứng mấy.
*
Cuối cùng thì sự thể cũng đã xẩy ra y như nó phải thế, Ninh nhẹ nhàng đi về vùng trời miên viễn sau một một thời gian lâm trọng bệnh. Dạo này Ninh thường mang chiếc đàn YAMAHA (nghe đâu của người em từ nước ngoài gởi về tặng ông anh) tới nhà bạn bè hát một số bài do mình mới sáng tác, đáng tiếc gặp đâu bỏ đó nên không ai tập hợp lại được. Tiễn đưa Ninh đến tận nghĩa trang có cả những người bạn quen lẫn chưa quen nhưng ai ai cũng đều tỏ lòng thương tiếc. Có lẽ lúc sinh thời, Ninh cũng không ngờ tình cảm người ta dành cho mình ướt át đến thế. Đứng lơ ngơ giữa bầu trời lộng gió với ngổn ngang nỗi niềm tâm sự, Tôi bâng khuâng nhìn những khuôn mặt sướt mướt nhạt nhoà thoạt ẩn thoạt hiện xung quanh, bỗng dưng bần thần ngẫm ngợi: người ta mỗi khi nghe hay hát bài ca Trách phận thường cười đùa vui vẻ, nhưng không hiểu, có một lúc nào đó, sau những phút giây hả hê sung sướng, liệu có ai ứa được, dù chỉ một giọt nước mắt nhỏ nhoi cám cảnh cho thân phận của nhân vật (người chồng bị vợ bỏ quên) trong bài hát như Ninh đã hóa thân “thương vay khóc mướn”?!... Và, đằng sau than thân trách phận có còn điều gì đáng cho người đời suy gẫm xét soi??...

Viết như một nén nhang thắp tình bè bạn
San Jose tháng 01/2011
Nguyên Đạt

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

HỌP MẶT ĐỒNG MÔN

Bảo Thắng K5

Nga Sơn chim hót tự đỉnh đồi
Liên tưởng ai về Thu nắng rơi
Bướm ong không đến cây vàng úa
Mai - Cúc tủi hờn Trúc Lan ơi


Tiếng nhạc âm vang rộn tiếng cười
Dạc dẫu thân cò vẫn rong chơi
Hà Mừng son sắt tình Chung thủy
Vĩnh Tuyến sum vầy quả thêm vui

Văng vẳng đâu đây âm điệu rung
Chuyện cũ dòn tan mãi khôn cùng
Thắng trận buông dao mình gác kiếm
Nguyệt thực Giao-Hòa tiễn Thu đông

Về chiều tóc ngả điểm sương rơi
Sư phạm tình người vẫn xanh tươi
Đồng môn bằng hữu Chung số kiếp
Mãi mãi bên nhau quyết chẳng rời

Et-Pi-Quy-En vẫn còn đây
Thắm thiết tình đời mãi dựng xây
Tuấn - Vân giao cảm nồng men rượu
Bạn cũ trường xưa mãi sum vầy

HỌA THƠ BẢO THẮNG

Trên đỉnh Nga Sơn chim ríu rít
Nắng ngọt ngào trong Liên khúc thu
Lá vàng chi động tình ong Bướm
Cúc - Trúc- Mai - Lan vội trở màu

Khu vườn Sư Phạm bên trời lạ
Nhạc Hòa như gọi bốn lăm năm
Mừng Hà đôi bóng về Chung lối
Năm nốt bâng khuâng một Nguyệt cầm

Nâng chén hôm nay là đã Thắng
Là Vĩnh viễn trên một Tuyến đường
Bức tranh Vân cẩu: đời tan hợp
Tiếng cười xanh lại tóc pha sương

Tuấn mã mai đưa về quê cũ
Dõng Dạc còn Ét-Pi-Quy-En
Bước giữa Giao mùa hong nắng mới
Tìm lại từng thầy, bạn, trường quen


ĐẶNG KIM

Ôi! TIẾNG HUẾ CỦA TÔI


Phan Cư K5

Tôi xa quê hơn 40 năm. Sống ở nơi đất khách quê người, tiếp xúc đủ hạng người, đủ thứ tiếng nói nhưng tôi vẫn giữ giọng Huế rặt của mình. Mỗi lần về thăm quê, tôi rất thích đi chợ Đông Ba, không phải để shopping mà để nghe giọng Huế. Đi vào chợ là tràn ngập những âm thanh quen thuộc; trên đầu, dưới chân, bên phải, bên trái đâu đâu tôi cũng nghe những tiếng nói yêu thương, tiếng nói “ấm trầm mà sâu lắng lạ”.
Cũng vì giọng Huế “rặt” không pha trộn mà tôi hay bị bạn bè chọc là “nói chi mà trọ trẹ rứa” hoặc “Sao nói chi mà nghe đặc sệt mùi mắm ruốc vậy”. Nhiều khi vui nhậu cùng thân hữu, tôi nghêu ngao sửa lời bài hát của Phạm Duy: “Tôi yêu tiếng Huế tôi, từ khi mới ra đời…”
Cũng vì mỗi tỉnh, mỗi miền đều có tiếng nói riêng mà nhiều khi người ta choảng nhau cũng bởi nhại giọng, “chửi cha không bằng pha tiếng” là vậy.
Do sự biến âm hoặc phát âm mà đôi khi tiếng Huế mang lại cho người ngoại tỉnh nhiều nhận xét thú vị.
Phải nói Huế là đất thần kinh, đất của học hành thi cử nên từ xa xưa người Huế đã rất yêu thích đọc thơ, làm thơ, do vậy giọng nói nhiều khi cũng du dương trầm bổng như ngâm thơ vậy. Một người bạn tôi ở trong Nam, nhân một lần ra công tác ở Huế đã chứng kiến và kể lại cuộc đối đáp của một bà già bán quán tạp hóa và một bé gái khoảng chín, mười tuổi:
-Mụ bán cho tui chai nước mắm.
Giọng nói lên bổng xuống trầm (có nhạc điệu) của em bé khiến bà chủ quán phì cười “mắng yêu”:
-Tổ cha mày, rứa cũng làm thơ.
Anh bạn này cho rằng bà già bán quán nói cũng hay như đọc thơ vậy.
Cũng có lẽ vì cái giọng thơ, cái giọng ngọt ngào, trầm ấm đó mà ngày xưa mấy anh học trò xứ Quảng ra thi đã liêu xiêu đôi chân khi gặp người con gái Huế:
Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế, chân đi không rời
Thế nhưng tiếng Huế đôi khi cũng tạo ra cho người xứ khác những hiểu lầm dẫn đến những trận cười vui vẻ.
Chẳng hạn, người Huế khi phát âm những tiếng có dấu hỏi (?) hay dấu sắc (‘) thì người khác tỉnh thường nghe ra là dấu nặng (.).

Xin được kể lại mấy câu chuyện sau đây:
Chuyện thứ nhất:
Có một anh người Huế làm Phường trưởng ở huyện Hòa Vang gì đó thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Một hôm họp liên tịch ở phường, thành viên dự họp hầu hết là người Quảng, người Nam hay Bắc. Như thường lệ, anh Phường trưởng đứng dậy điểm danh. Anh hỏi:
-Bên chị em phụ nữ đủ chưa?
Cả hội trường, mọi người cười cái rần. Anh phường trưởng ngẩn người, không hiểu gì cả nhưng vẫn tiếp tục điểm danh:
-Nông dân đủ chưa?
Bây giờ thì mọi người tham dự òa lên cười ngặt nghẽo. Lần này anh phường trưởng lại càng ngơ ngác nhìn mọi người rồi cũng ngỏn ngoẻn cười theo.
Khi tan họp, anh hỏi nhỏ một bác người Quảng trong hội nông dân:
-Răng hồi nảy tôi điểm danh, mọi người lại cười dữ rứa?
Bác nông dân vỗ lưng anh ta, cười khà khà:
-Eng nói lọa rứa. Đủ chưa thì nói đủ chưa, cứ đ. chưa, đ. chưa, ai mòa không cười.
Chuyện thứ hai:
Một anh thanh niên Saigon vào hớt tóc ở một tiệm hớt tóc thanh nữ. Cô chủ tiệm là người Huế, sau khi mời anh ngồi vào ghế, lấy khăn quàng qua người xong, lên tiếng hỏi khách:
-Anh cắt dài hay cắt ngắn? (Xin lỗi! Hiểu sao thì hiểu. Không dám diễn nôm)!
Anh chàng Saigon nghe vậy thốt nhiên hốt hoảng đứng bật dậy, cuốn gói bỏ đi một mạch, mặc cho cô thợ hớt tóc đứng ngẩn tò te tiếc rẻ nhìn theo.
Chuyện thứ ba:
Một anh người Huế vào Saigon thăm người con đang học đại học. Đang loay hoay tìm đường thì gặp một người cảnh sát giao thông đi tới. Anh mừng rỡ hỏi:
-Đường ni là đường mô ri eng?
Anh cảnh sát sửng người suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu:
-Đường này không phải là đường Mô-ri-en mà là đường Nguyễn Huệ.
Anh người Huế nghe ra, thẩm ý thẩm tình lỏn lẻn cười, tiếp tục đi tìm người chỉ đường khác…
Tôi có một thằng bạn người cùng làng, nhỏ học trường Huyện, lớn lên rủ nhau thi vào Sư Phạm Qui Nhơn. Ông nội hắn vốn là một người thông nho lại còn biết cả chữ quốc ngữ, đặt tên cho người anh là Lễ, hắn là Nhạc. Cũng do tiếng Huế chữ nhờ (Nh) thường kêu bằng âm dờ (D) nên khi đi làm giấy khai sinh đáng lẽ viết Nguyễn Nhạc thì ông Lục sự lại phóng bút ra Nguyễn Dạc (trong tự điễn chữ dạc chỉ là tiếng đệm chứ không có nghĩa gì hết). Vậy là từ đó hắn phải mang cái tên bất như ý suốt đời.

Ra trường vào dạy học ở Phú Yên, người bản địa thường đọc chữ vờ (V) thành chữ dờ (D); nên cứ ngỡ hắn là tên Vạc, mỗi lần tiếp xúc, phụ huynh học sinh sợ gọi tên Dạc e không đúng, có lỗi, bèn một điều thưa thầy Vạc, hai điều thưa thầy Vạc khiến thầy dở khóc dở cười chả biết đường nào mà đính chính!
Tiếng Huế của tôi là vậy đó; khi dịu dàng, khi trầm ấm, khi mượt mà như thơ mà đôi khi cũng tạo cho người nghe khác tỉnh những cảm nhận thích thú và trào lộng, một sự trào lộng rất dễ thương
Ôi tiếng Huế của tôi!



Dalat 27.8.2010
Cuphandalat

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

KHOẢNG TRỜI ĐỂ NHỚ

Nguyên Đạt K5

Gặp lại thầy tóc trên đầu chớm bạc
Bọn trẻ cười thấy bố mãi xưng “Con”
Năm tháng đi qua dẫu có xói mòn
Lòng con vẫn giữ nguyên điều nhân nghĩa

Nhớ khi xưa tuổi còn thơ trẻ
Tập đánh vần nhai mấy chữ ê a
Bàn tay ai từ ái hiền hòa
Đưa con đến những chân trời rộng mở

Để ước mơ từng ngày rộ nở
Chắp cánh hồng bay tới cõi trăng sao
Mầm non tơ ngày một vươn cao
Tỏa bóng mát đời xanh cây trái

Ngôi nhà yêu thương giờ con trở lại
Uống ngọt mềm bầu sữa thủy chung
Như dòng sông tiếp nối dòng sông
Ra biển cả vẫn nhớ nguồn suối cũ
Nơi đã tập làm con suối nhỏ
Thuở yên bình mạch sống hoang sơ

Con về tìm lại dấu xưa
Vết son ngày cũ vẫn chưa phai màu
Ơn thầy nghĩa nặng tình sâu
Dẫu khi đầu bạc trắng phau chẳng mòn


MẤY DÒNG TÂM BÚT

Phan Quang Đán K8

Chắc hẳn trong cuộc đời của mỗi chúng ta đều có những người Thầy, người Cô có ảnh hưởng lớn đến con đường chúng ta đi. Có những người Thầy đã soi sáng cuộc đời mỗi chúng ta và là người chắp cánh những ước mơ của chúng ta bay xa…

Người Thầy không chỉ mang kiến thức đến với học trò mà còn truyền ngọn lửa tình yêu, lòng nhiệt huyết vào trong đó.
Xin gửi lời biết ơn vô hạn đến tất cả những ai đã mang tình yêu và kiến thức đến cho chúng ta. Xin gởi lời cám ơn chân thành đến quí Thầy Cô rất tận tụy, nhiệt tình và yêu thương trò hết mực

Những người đã vun đầy kiến thức cho các con. Đó có thể chỉ là những lời chỉ dạy nho nhỏ, những lời khuyên răn nhẹ nhàng của những người đã thổi niềm vui, niềm hứng khởi vào trong những bài học của các con hay những bài học thoáng qua, nhưng những điều đó đã làm nên chúng ta của ngày hôm nay.
Xin quí thầy cô nhận nơi đây lời chúc tận đáy lòng với mong muốn quý thầy Cô luôn mạnh khỏe để yêu thương và dạy dỗ chúng con.




Thêm một năm cầm phấn,
Mắt thêm một nếp nhăn,
Những trái tim thắm đẩm
Tình yêu người mênh mông

Như một món quà kính dâng lên quý Thầy Cô

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

BÀI VĂN VIẾT VỀ CHA

Song Thy K3

Bài văn đầu đời về cha
Con bỏ trống bị cô cho không điểm
Cô giáo mắng con là học sinh kém
Không chăm ngoan chẳng viết được câu nào

“Công ơn cha như núi cao sừng sững
Chở che em bao giông bão cuộc đời
Viết về cha sao không có một lời
Khi cả lớp nhiều bài hay cảm động”?

Không biết nói gì, con đành im lặng
Bài văn đầu đời con để trống về cha
Biết viết gì đây khi mẹ mới khóc hôm qua
Bữa cơm chiều chẳng ngọt ngon như thường lệ
Chén canh rau giờ còn nghe vị mặn
Phải chăng hoà nước mắt mẹ rơi?

Bố bỏ mẹ đi, héo hắt cuộc đời
Cha bỏ con đi, tuổi thơ bất hạnh
Bài văn đầu đời con còn nhớ mãi
Điểm không ngày nào ám ảnh đời con

Cô giáo về sau bắt tả về ông
Con sợ con mình lại như bố nó
Con sợ bài văn, bài văn về bố
Dù để giấy không, con xứng đáng điểm mười
Cô không thể nào hiểu được cô ơi
Em không thể viết không hay về Bố!

SƯ PHẠM QUINHƠN - NGÔI TRƯỜNG THỜI TUỔI NHỚ

Nguyên Đạt K5

Cuộc sống với bao mối bận tâm của vòng đời cơm áo kéo ta mãi trôi theo dòng chảy đến nỗi gần như lãng quên đi mọi thứ, thế rồi bất chợt một trưa hè nào đó trên đường về nhà, nghe tiếng ve râm rang trên hàng phượng vỹ, dòng ký ức bỗng dưng được khơi gợi, và những kỷ niệm của một thời hoa gấm mộng mơ đổ về làm xao xuyến tâm tư. Đã có một lần như thế với tôi vào dịp cuối năm khi lục tủ để thanh lý những vật dụng không cần thiết, và phát hiện ra chiếc huy hiệu cùng với tấm thẻ giáo sinh trường sư phạm Quy Nhơn để rồi cái góc trời riêng hơn bốn chục năm qua hiện rõ mồn một trong trí nhớ.
Tôi vốn xuất thân từ một gia đình có truyền thống dạy học, ông nội là một trong những cụ đồ nho ít oi còn sót lại, ba tôi cũng là một ông giáo trường làng; ngoài việc rất được bà con quí trọng, thương yêu, nể phục về sự tận tuỵ với nghề, ông còn nổi tiếng là một người đặc biệt, bởi sinh thời thường mỗi khi tới trường, ông chỉ mặc độc chiếc áo dài đen, đi guốc mộc trong khi trang phục của các đồng nghiệp đã là đồ Âu, đi giày đế cứng. Trong một lần máy bay Pháp thả bom nhầm xuống vùng tạm chiếm, ông đã bị thương tật khi cố lao vào đám cháy để cứu mấy cậu học trò còn mắc kẹt trong phòng học. Câu chuyện bi tráng đó đã để lại một ấn tượng rất thiêng liêng trong cõi nhớ; thế nên sau khi đậu tú tài, khác với những người bạn đồng lứa, tôi chọn nghề dạy học như là một sự đương nhiên tiếp nối hoài bão của cha ông mình.
Nghề dạy học bất cứ thời nào cũng vậy, vốn không phải là nghề béo bở nhưng để được làm thầy nào phải chuyện giản đơn. Tôi nhớ hồi đó suốt cả dãy đất miền Trung từ Quảng Trị tới Bình Thuận chỉ mới có Sư phạm Quy Nhơn (Sư phạm Huế mấy năm sau mới mở) là trường duy nhất đào tạo giáo viên bậc Tiểu học với số lượng tuyển sinh hạn chế nên rất khó đổ. Nhiều anh vượt qua kỳ thi viết với số điểm rất cao, thi vấn đáp cũng trả lời gọn gàng đâu đó, lên bảng viết: “Miệng nói lời hay-tay làm việc tốt” nắn nót rất đẹp, vậy mà cuối cùng bảng vàng chẳng thấy đề tên! Hỏi các bậc đàn anh mới biết, hoặc là khi viết xong do quên lau bảng, hoặc lau bảng không đúng cách làm bụi phấn mù bay dính đầy râu tóc và… nhiều thứ linh tinh khác như ngoại hình, cách ăn mặc, đi đứng (nói chung là TƯ CÁCH)… mình cho là chuyện nhỏ không để ý nhưng khi tuyển chọn một người để đào tạo thành một ông “thầy” thì các vị giám khảo lại rất quan tâm.
Cầm mấy thứ “đồ cổ” trên tay, tôi săm soi ngắm nghía mà trong dạ cảm thấy bùi ngùi như đang gặp lại người bạn thiết thân của một thời xưa cũ. Chiếc huy hiệu thì phía mặt sau gần như bị rỉ sét gần hết, may mắn mặt trước vẫn còn y nguyên, tấm thẻ giáo sinh thì xỉn màu vàng ố, bốn góc te tua vì dán nhậm, cái bảng tên thì sứt sẹo, tróc hết nước sơn. Vậy mà nếu không nhờ có “bọn chúng” làm tấm bùa hộ mệnh để mỗi khi ra đường gặp mấy anh quân cảnh thì ắt đã bị xét hỏi lôi thôi.
Bạn à. Đúng nghèo vốn không phải là cái tội nhưng cũng vì thiếu tiền không kịp đóng học phí đúng kỳ hạn nên nhà trường không làm hồ sơ cấp giấy hợp lệ quân dịch, để rồi suýt nữa tôi phải từ bỏ ước mơ của mình,
… Hai năm ở trường Sư phạm chỉ là một thời gian quá ngắn so với cả một đời người, nhưng cũng đủ dài để luyện rèn cho tôi, từ một cậu học sinh ngu ngơ rụt rè lần đầu tiên sướt mướt rời vú mẹ lên đường học nghiệp, và khi bước ra đời thì đã trở thành một người chững chạc tự tin, có một lý tưởng để đi theo, một hoài bão để vươn tới.
Trong các thầy cô, người gây ấn tượng nhất đối với tôi là thầy Đoàn Nhật Tấn. Thú thật, tôi vốn học hành hơi a-ma-tưa nhưng giờ lý thuyết sư phạm của thấy thì chưa khi nào vắng mặt. Mỗi khi vào lớp là thầy thao thao bất tuyệt, không thèm nhìn ngắm học trò, vậy mà đứa nào cũng há mỏ chăm chú lắng nghe không bỏ sót chữ nào. Năm 2002 có dịp dự đại hội cựu giáo sinh SPQN ở khu du lịch Thanh Đa (cơ ngơi của anh Hòa khóa 11) rồi lần sau ở quán Trầu Cau (cũng của vợ chồng anh chị cựu giáo sinh) tôi có gặp được thấy Bồn (vẫn năng động, hoạt bát như ngày nào) thầy Hoàng Song Nhi và một số thầy cô dạy khóa sau chưa biết tên, đáng tiếc không có thầy Tấn. Còn thầy Mẫn, Hiệu trưởng nghe đâu sau năm 75 sống ẩn cư ít giao tiếp với bên ngoài.
Ở Sài Gòn hằng năm, Hội cựu giáo sinh SPQN thường tổ chức họp mặt vào ngày chủ nhật đầu tiên của tháng 7 dương lịch để anh em đồng môn khi đưa con thi đại học ở Sài Gòn có dịp ghé tham dự. Còn Huế thì chọn ngày 01/8 để họp mặt. Riêng Phú Yên thì lâu lâu mới tổ chức gặp gỡ một lần. Năm 2006 chúng tôi tổ chức một cuộc hành hương về trương cũ, khi đứng trước cổng trường, cảm thấy hụt hẫng vì sự đổi thay, biến thiên của cuộc đời, tự nhiên ai cũng muốn khóc. Nhìn chung, tổng thể không thay đổi gì mấy nhưng những công trình vá víu, lại thêm các hạng mục đang dở dang khiến cho anh em cảm thấy xa lạ buồn tủi, phải kéo nhau về trường mẫu giáo của anh Bảo gặp gỡ mấy thầy cũ và bạn đồng môn ở Qui Nhơn sinh hoạt tới khuya để khỏi bỏ công lặn lội.
Khu nội trú của trường Sư phạm hồi ấy chỉ dành cho nữ nên những giáo sinh nam chúng tôi phần đông phải tìm nhà trọ ở khu 6 hoặc khu 2 ăn-ở rẻ nhưng bẩn chật, giường chiếu mùng mền đều thiếu. Con đường tới trường vào mùa hè bốc đầy bụi đỏ, về mùa đông thì loang loáng những vũng nước mưa, nhiều bữa xui xẻo gặp mấy đứa trẻ rắn mắt lấy cục đá quăng vào thì ôi thôi thôi, nước bùn dính vào áo quần đỏ quạch, khốn tới khốn lui. Những bạn nào ở khu 2 từng thưởng thức các món chiên xào bằng dầu dừa (đặc sản của xóm biển khu 2) ắt hẳn phải nhớ đời. Thoạt đầu thì muốn… bứt xô bởi cái mùi hăng hắc của nó, nhưng thét rồi lại đâm ghiền.
Cuối cùng thì hai năm học cũng mau chóng qua đi. Đêm cuối cùng chuẩn bị rời trường sao mà trống rỗng; cái ý nghĩ sắp phải rời xa ngôi trường thân yêu làm cho mình có cảm giác vậy chăng? Chúng tôi, một nhóm khoảng mươi đứa rủ nhau ôm sách, vở lên trường chất đống quanh trụ cờ làm lễ… đốt sách (?!). Nhưng mới đốt đâu vài cuốn thì thầy Hiệu trưởng xuất hiện; ông giận dữ mắng mỏ một hồi; nhân lúc thầy nghỉ lấy hơi, có đứa buột miệng thưa (giọng điệu theo lối Kiếm hiệp “Kim Dung”):
-Dạ thưa thầy, không phải chúng em ra trường là trả chữ nghĩa lại cho thầy cô đâu ạ! Chữ nghĩa nằm cả trong bụng chúng em hết cả rồi, đã biến thành… vô chiêu, mà vô chiêu thì ắt sẽ thắng hữu chiêu đấy ạ!
Nghe vậy, thầy chưng hửng, không hiểu sao ông lặng lẽ đi vào nhà.
Có điều khi đang học, xem ra người nào cũng tơ-lơ-mơ nhưng sau khi ra trường, mỗi khi dạy học tới tình huống nào là những kiến thức tiềm tàng trong đầu lập tức tuôn ra rất đúng lúc để ông thầy kịp thời ứng phó ngay. Đấy không phải vô chiêu thắng hữu chiêu là gì.
Cái trường này cũng thật lạ. Bạn đồng môn, cùng khóa hay khác khóa, cùng lớp hay khác lớp, quen biết hay chưa quen biết, gần như đều có chung sợi dây vô hình kết nối tình thân ái. Mỗi khi nghe đâu đó hoặc gặp đâu đó mấy từ SPQN là tìm cách hỏi han làm quen ngay, chỉ vài ba câu là chuyện nổ như bắp rang (nói hoài không hết). Ôi! Buổi ra trường phơi phới lòng xuân, hẹn một ngày sẽ tìm dịp thăm nhau cùng nhau ngồi trước sân nhìn trâu đạp lúa. Một ước mơ bình dị vậy mà khi hết chiến tranh rồi, bạn bầu lại càng tan tác chia xa không phải là ở tận cùng đất nước mà phải nói là tận cùng trái đất, sống kiếp ly hương nơi đất khách quê người. Vậy mà khi gặp lại nhau vẫn thấy thân quen như mới vừa xa cách. Thôi thì:
Trải qua bao song gió
Mừng còn được gặp nhau
Thôi thì chuyện bể dâu
Chi mô mà vướng bận
Đời mi dù lận đận
Đời tao cũng rứa thôi
Nâng ly toét miệng cười
Cho “goa”… cho qua thời cát bụi

KỶ NIỆM



Lâu lắm rồi chưa về thăm trường cũ
Còn hay chăng hàng phượng vỹ năm nào
Tà áo trắng thướt tha vờn gió biển
Nữ giáo sinh trường Sư phạm Qui Nhơn

Nhớ không em chuyện tình thời trai trẻ
Đã bao lần làm rộn rã con tim
Chiều thứ bảy có người mong kẻ đợi
Nay chỉ còn là kỷ niệm ngày qua

Nguyễn Ngọc Sinh K10

ĐỌC & SUY GẪM


Cổng trường ngày thi đông nghẹt thí sinh & phụ huynh. Những gánh hàng, dãy quán mọc lên san sát trên khoảng đất trống cạnh trường.

-Út, Út, Út ơi!

Cô học trò lúng túng tách khỏi đám bạn, đi về phía tiếng kêu.

-Ăn đi con. Xôi đậu. Thi sẽ đậu đấy

-Con ăn rồi. Sao má lại ra đây?!

Cô quày quả vào trường, vội vàng như trốn chạy...

Mùa thi lại về. Cô giáo trẻ tần ngần trước cổng trường nhộn nhịp. Giọt nước mắt muộn màng đọng nơi khóe mắt. "Con mãi sẽ không đậu khi chối từ gánh xôi của má".

***


Thầy giáo lớp 1 thảo luận với lớp về một bức hình chụp, có một cậu bé màu tóc khác mọi người trong gia đình. Một học sinh cho rằng cậu bé trong hình chính là con nuôi.

Một cô bé nói:
-Mình biết tất cả về con nuôi đấy.

Một học sinh khác hỏi:
-Thế con nuôi là gì?
Cô bé trả lời:
-Con nuôi nghĩa là mình lớn lên từ trong tim mẹ mình chứ không phải từ trong bụng.

CHIỀU THU VIỄN XỨ

Hoài Hương Nguyễn Thị Thọ K10

Thu đến rồi đi theo tháng năm
Đời ta biết mấy cuộc thăng trầm
Nỗi lòng lưu lạc thêm cô quạnh
Từng gió thu về nghe lạnh căm

Ngàn lá Cali đã ngã hồng
Liễu gầy run rẩy môi chiều phong
Mây treo lờ lững trên suờn núi
Lá đổ, hoa rơi luống chạnh lòng

Ta mãi thân côi lạc xứ người,
Bao lần nắng sớm mưa chiều rơi
Nghe hồn phai úa như năm tháng
Giấc mộng quê hương héo hắt đời

Ba mấy năm dài đã đủ chưa,
Lòng ai sao cứ mãi đôi bờ?
Ta đi tìm lại hương mùa cũ
Chỉ thấy căm căm gió đổi mùa

Sao nắng chiều trong mắt chợt nhòa
Hàng thông se lạnh góc trời xa
Nghe heo may gợn bên song vắng
Xao xuyến chiều thu nỗi nhớ nhà.

MÀU HOA TRÊN MÁ AI

Nguyễn Văn Uông K3

Chiếc xe khách đổ dốc thoai thoải, ôm sát con đường bao quanh mép nước, từ từ tiến vào bến. Nhận xong hành lý ba chúng tôi thả bộ về phía đầu cầu nơi có những cây tùng thẳng tắp và bực ghế đá dưới gốc dành cho du khách thư giãn ngắm hồ. Đây là trung tâm thành phố ư? Những con đường nhẵn thín, yên ắng khác thường, chẳng giống như thành phố quê tôi và những nơi tôi đã đi qua, nhì nhằng, om ả tiếng người và tiếng còi xe đủ loại. Đồi thông bên kia hồ xanh biếc rủ nghiêng xuống mép cỏ ven bờ, in bóng dưới làn nước trong xanh. Vài chiếc xe đạp nước giữa hồ gần xa như thực như mơ hồ huyền ảo. Nắng cuối thu trong ngần từ những chòm mây trắng trên cao dác vàng một lớp lên thành phố. Căn nhà nhỏ nhắn giữa đồi thông và nhà thủy tạ sáng trắng lên trong màu xanh cây rừng ấp ủ, trông như một cảnh thiên thai huyền thoại. Hồ Xuân Hương đây ư? Nơi mà tôi đã từng say đắm với màn sương lảng đảng, những hạt sương e ấp dưới đọt nắng mai, nóc gác chuông bồng bềnh giữa mảng xanh núi đồi đầy sương qua những tấm ảnh bưu thiếp khi tôi còn là cậu học sinh trung học.
Đà Lạt ngày tôi mới đến là thế đấy
Ba đứa chúng tôi nhận sự vụ lịnh phân công về Dalat trong niềm háo hức tuổi trẻ thích đi xa. Hằng ngày, từ nhà trọ lên phố, chúng tôi phải bao gần nửa vòng hồ. Đoạn đường bên này quen thuộc bao nhiêu thì bên kia hồ đối với tôi còn xa lạ lắm. Thời chiến tranh bất ổn, không có việc ít ai qua bên kia hồ. Có những sáng sương giăng kín, không thấy bờ. Có những chiều đàn vịt trời hàng mấy chục con nô giỡn móng nước xao động mặt hồ trước khi rủ nhau về tổ trong các lùm cây phía thượng nguồn. Có lần ba đứa tôi lên xe đạp nước ra giữa hồ, ngắm trời xanh đóng khung trong cái viền xanh của núi đồi. Bàn đạp nước làm vỡ tung tóe mặt hồ rập rình các chùm hoa sóng.
Chúng tôi dạy học ở vùng ngoại ô, chỉ lên thành phố dịp cuối tuần. Bao nhiêu vất vả, mệt nhọc tự dưng tan biến khi ngang qua hồ, tắm mình trong bầu khí mát lạnh. Chúng tôi gắn bó với nơi này như quê hương thứ hai. Nhiều cuộc hội ngộ, chia ly, nhiều người đi qua ánh mắt, có người còn đọng lại, có hình ảnh đã tan biến… đều đi vào kỷ niệm của một thời. Cuộc chiến đưa chúng tôi mỗi đứa về một ngả, chỉ còn mình tôi trụ lại đây như một chứng nhân, một điểm về cho dĩ vãng và có chuyện kể về cuộc tình dang dở của bạn tôi.
Bạn tôi quen một cô nữ sinh áo trắng, mỗi chiều thứ bảy ba chúng tôi vào thủy tạ ngắm hồ. Anh chị một bàn ở góc tối, tôi và người bạn còn lại chung bàn với nhiều người khác. Tiếng nhạc thính phòng tỉ tê trong không gian chiều vắng lặng, dìu dặt những nỗi niềm thầm kín khi hoàng hôn nhuộm đỏ những con sóng nhỏ lăn tăn để rồi chìm dần vào đêm đậm đặc. Tiếng chiều ngân nga từ gác chuông nhà thờ như lời cầu phúc cho một ngày bình yên. Hai người tắm vào cuộc tình say đắm với nhiều kỷ niệm, những cuộc hò hẹn dưới trăng mờ nghe tiếng hồ reo. Sương đêm lạnh ướt vai áo anh quyện vào tóc chị. Xuân về mai anh đào rụng cánh vươn lối hai người bước qua.
Chúng tôi có những ngày thật bình yên ở thành phố này trong khi những nơi khác bom đạn hằng ngày gieo rắc tai họa. Đà khốc liệt của chiến tranh hiện diện dần ở thành phố với việc cư dân nhiều miền ngày càng đổ về đây. Những tiếng bom pháo, lúc đầu chỉ nghe xa xa trong đêm, dần dần tiến về gần hơn. Thành phố xuất hiện nhiều màu áo nhà binh, những cuộc bắt bớ, những nỗi lo sợ khi đêm về. Người ta đã có ý thức lánh xa những nơi tụ tập đông người, hàng quán, nơi vui chơi công cộng. Những cuộc xuống đường của học sinh, sinh viên, những cuộc giao tranh bằng nhiều loại vũ khí với nhiều xác chết của cả hai bên nổ ra trong lòng thành phố. Cô nữ sinh người yêu bạn tôi bị giam giữ sau một đợt biểu tình bạo động. Bạn tôi bị kiểm tra ngoài đường phố và đưa vào trại huấn luyện động viên. Hai người xa nhau theo hai ngõ khác biệt, không một lời chia tay. Anh vào lính. Mấy tháng sau, chị theo bạn bè ra rừng. Mấy năm sau tôi nghe tin anh chết trong chiến dịch Hạ Lào. Tôi đã mất hẳn hai người bạn của tôi.
Hết chiến tranh , tôi vẫn theo nghề cũ, sống trong thành phố này. Một buổi chiều, từ trường về, điều tôi không bao giờ nghĩ đến lại xảy ra. Một người đàn ông đang đùa với lũ con tôi trước sân. Tôi nhìn kỹ một lần nữa, không sai vào đâu được, đúng là Dạng, tên người bạn cũ của tôi. Hai chúng tôi ôm chầm lấy nhau trong sự ngỡ ngàng của lũ con tôi.
-Sao? Đã có tin là cậu chết rồi sao còn lù lù về đây ? Thế là thế nào ?
-Chuyện dài lắm. Mình còn sống về đây là được rồi. Mình hỏi mãi mới tìm được đến đây. Con cái đề huề vui nhỉ ?
Sau chiến tranh, khó khăn hiện rõ trong từng nhà qua mỗi bữa ăn khoai sắn cõng cơm. Tôi theo nghề dạy học nhưng đàn con sống được nhờ sức hai vợ chồng tôi gò lưng trên đám đất khai phá lấn rừng. Dạng lưu lại mấy hôm kể cho tôi nghe nhiều chuyện từ ngày xa thành phố và cuộc đời người lính ngắn hơn cuộc đời người tù của anh. Anh bị lôi vào lính, tung vào chiến trường như một con cờ trong vô số con cờ khác. Trận cuối cùng kết thúc đời lính của Dạng rủi mà may. Trực thăng vận đổ quân xuống trận địa thì rơi vào ổ phục kích khổng lồ. Người chết, người bị thương la liệt. Dạng may mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh trên miền Bắc. Ra tù sau chiến tranh, Dạng về quê cùng gia đình đi kinh tế mới. Nhớ Đà Lạt, Dạng tìm đến đây.
-Thế đã gặp Thủy chưa ?
-Cũng muốn gặp nhưng chưa tiện.
Thủy, tên người yêu cũ của Dạng, hiện làm công tác chính quyền. Thỉnh thoảng tôi gặp cô nhưng không còn niềm nỡ như xưa. Sau mấy lần nấn ná, Dạng tìm đến Thủy. Hai người gặp lại nhau, tôi có dịp về thăm bà Năm trong căn nhà gỗ có khoảnh sân vuông vắn khoét vào sườn đồi giữa xứ mận đào đặc sản vùng quê Tây Nguyên. Ngày xưa, những chiều xuân như hôm nay, mận, đào nở hoa ngát vườn. Hoa mận trắng li ti từng chùm, từng đám. Hoa đào năm cánh hồng phai mặn mà như môi hồng người sơn nữ e ấp dáng xuân. Trong khi tôi và vài người bạn phụ bà Năm, mẹ Thủy, sữa soạn bữa cơm chiều thứ bảy cho những thằng giặc thành phố, từ bà Năm thường ưa gọi chúng tôi, về chơi nhà, Dạng và Thủy thơ thẩn trong vườn hay cập kê góc sân nhìn con đường quốc lộ uốn khúc trườn mình theo dốc đèo xuống huyện lỵ dưới thung lũng xa. Từ góc sân này, những ngày quang mây, nhìn về quê Dạng phía dưới mênh mông một góc trời trong xanh màu nước biển. Hai người đã từng mơ ước ngồi chung xe đổ đèo về vùng quê biển mặn mà gió muối của anh xây dựng ngôi nhà chung trong mộng.
Lần này, Thủy và bà Năm tiếp Dạng trong nhà. Tôi ra góc sân nhìn những chùm hoa muộn của cây mận già. Ngày xưa, gốc mận này sum sê lá cành, đầu xuân từng chùm hoa trắng bập bềnh theo gió rải không biết cơ man nào là những cánh hoa li ti phủ trắng một góc sân. Hè rực nắng, những trái chín căn mọng vàng mượt, nõn nà chi chít đầu cành, trĩu oằn lơi lả chờ tay người hái. Đó là cây mận ngon nhất vườn, bà Năm chỉ để dành đãi khách và làm quà biếu. Chiếc ghế đá nhỏ dưới gốc mận ngày xưa là không gian lí tưởng cho những đôi bạn tâm tình khi chiều xuống hay những đêm trăng nay không còn nữa, thay vào là bức tượng Phật Bà từ ngày Thủy và Dạng đi xa. Tôi với một cành mận nhìn những trái mận nhỏ li ti vừa rụng rốn hoa. Trong chuổi trái này, trái nào sẽ may mắn tồn tại và lớn lên đến ngày cho hương vị ngọt ngào, trái nào sẽ rụng rơi và tan biến vào đất cát... Đêm đó hai người nói chuyện rất lâu. Bà Năm dâng hương khấn nguyện trước sân, lầm rầm cắm trước tượng Phật, thói quen bà có từ ngày an vị bức tượng này.
Chúng tôi từ giã bà Năm và Thủy khi nắng mai xua tan hết màn sương trên triền dốc đất đỏ um tùm cỏ cây. Giữa lưng chừng đồi , tôi quay nhìn căn nhà gỗ chỏng chơ giữa vườn mận đào. Vượt qua hơn 30 cây số dốc đèo về Dalat, chúng tôi không nói với nhau lời nào. Chiều hôm đó Dạng từ biệt tôi. Trong ánh mắt đượm buồn, tôi đã hình dung ra hồi kết của cuộc tình trắc trở. Định kiến và những ràng buộc ý thức không dễ cho họ đến được với nhau. Dạng xiếc tay tôi thật chặt như thầm nói lời chia tay vĩnh viễn.
Vài năm sau tôi được tin Dạng đã ra nước ngoài, Thủy kết hôn với một quan chức trong tỉnh.
Cuộc sống cứ thế trôi qua. Trong sâu thẳm tâm hồn, tôi không còn một mảy may suy nghĩ về mối tình của họ, cho đó chỉ một kỷ niệm đẹp thoáng qua. Cuộc sống của Thủy bình lặng như bao gia đình cán bộ trong thành phố này, công danh thành đạt, con cái trưởng thành. Dạng đã lấy vợ, sinh con, xây dựng gia đình êm ấm ở nước ngoài. Tôi ít nhận được tin của Dạng và nghĩ Dạng đã quên chuyện cũ ngày xưa.
Mấy chục năm lăn lộn với nghề, ngày nghỉ hưu nhiều trắc trở, nặng nề lại đến. Một buổi chiều, khi tôi loay hoay chuẩn bị một số công việc cho xong những ngày cuối cùng ở công sở, một sinh viên gõ cửa, từ tốn chào tôi. Áo dài trắng, tóc xỏa vai, đôi mắt long lanh e thẹn… Hình như tôi đã quen, đã gặp lần nào. Lừng chừng mãi không nhận ra, tôi đành buông một câu quen tần nghề nghiệp:
- Em gặp tôi ? Chuyện gì có cần lắm không ?
- Thưa … Thưa thầy… Mẹ em…
- Ồ!... Đúng rồi!... Mẹ em là Thủy phải không ?
- Dạ! Mẹ em nhờ thầy …
Tôi chăm chú nhìn cô bé, vẫn đôi mắt, cặp môi và nụ cười e thẹn ấy, vẫn bối rối mân mê từng chòm tóc vắt qua ngực rồi đưa lên môi, lên mũi thẹn thùng. Đúng là một bản sao của Thủy, là Thủy của mấy mươi năm trước.
Hôm sau tôi tìm thăm Thủy ở bệnh viện, một xác người khô queo, một khuôn mặt thẩn thờ nhưng đôi mắt như còn ẩn chứa một nỗi niềm cần giải bày. Tôi nói chuyện với Thủy mà cứ ngỡ như đang chuyện trò với cô bé ngồi ở cuối giường chờ săn sóc mẹ. Chồng Thủy là một cán bộ ở tỉnh. Sau ngày bà Năm mất, anh để Thủy xin nghỉ việc về sống ở quê với khu vườn có ngôi nhà gỗ, cây mận già. Thủy thương yêu chồng, biết ơn anh nhưng trong lòng vẫn thấy có điều gì mất mát, nuối tiếc. Cuộc sống gia đình hạnh phúc nhưng những nụ cười của Thủy chưa thật tươi tỉnh, mặn mà. Đôi lần Thủy có mặc cảm người phạm tội và cố quên đi tất cả nhưng quá khứ cứ chờn vờn hiện ra. Thật ra Thủy không còn một nỗi nhớ cụ thể nào nhưng sao cứ thấy nhớ, một sự nhớ xót xa, bâng quơ không dành cho một ai, không dính dáng đến một hình ảnh nào. Thủy nhờ tôi báo cho Dạng biết Thủy ốm và cần gặp anh. Một việc khó cho tôi vì từ lâu tôi không còn liên lạc với anh ấy.
Mấy lần dò hỏi, tôi tìm được địa chỉ những bạn anh ở quê, cuối cùng tôi cũng liên lạc được với Dạng. Nhưng chậm quá rồi, Thủy đi xa trước khi Dạng quay về. Trước khi mất Thủy rất tỉnh táo gởi lại cho tôi một chiếc hộp nhỏ bọc cẩn thận trong một phong bì nhờ chuyển cho Dạng khi gặp anh.
Mấy tháng sau Dạng về. Cũng mùa xuân... Một xe gắn máy hai ông già đổ đèo về thăm chốn cũ. Gởi xe ở dưới quốc lộ, hai chúng tôi ì ạch leo con dốc đất đỏ giữa hai vườn mận đào. Đứng ở hiên trường nhìn màu trời xanh nước biển phía dưới, nhìn khu vườn mận và ngôi nhà gỗ ngày xưa… Nhiều thay đổi lắm. Gần bốn mươi năm rồi còn gì! Ngày mới ra trường Dạng về đây nhận công tác là một thanh niên nhiều hăm hở, bây giờ đã hai thứ tóc thời gian nhuộm màu. Dạng nhớ lại một lần đứng ở hiên trường này nhìn bầu trời và khu vườn có ngôi nhà quen thuộc ấy, một bóng áo trắng hiện ra giữa cơ man hoa đào hoa mận mùa xuân. Gió xuân lay nhẹ vẽ nên vô số hoa nắng lên áo, lên tóc nàng tiên nữ giáng trần. Dạng quen với Thủy từ buổi ấy và gắn bó hơn với khu vườn có ngôi nhà lẻ loi này. Chúng tôi theo lối quen băng qua vườn. Một vài gốc mận, đào còn sót lại, cành lá khẳng khiu như là chứng nhân của một thời đã tàn lụi, không chen nổi với những cây hồng, cà phê mới trồng. Một bóng áo trắng tóc kẹp một nắm gọn gàng sau vần lưng tròn trịa lễ phép chào hai chúng tôi, mời vào nhà. Tôi giới thiệu với cháu đây là bác Dạng về thăm mẹ. Hai chúng tôi thắp hương trước bàn thờ Thủy và bà Năm, thăm mộ hai người. Cháu mời chúng tôi dự bữa cơm trưa cúng mẹ, nấn ná đến chiều rồi trở lại thành phố.
Hơn 20 năm trước, Dạng rời Việt Nam trong một chuyến đi hợp pháp. Nơi Dạng sống ít người Việt, anh luôn khao khát được nghe tiếng mẹ đẻ và các món ăn Việt thân quen. Ở xứ người nỗi nhớ quê hương là nhớ về Thủy. Anh có thói quen ghi nhật ký từ ngày ấy, không nhiều, không thường xuyên, chỉ là những bức thư thầm cho Thủy, nói với Thủy. Anh sống như một người lập dị, ngoài thời gian cho công việc anh ngồi bên chiếc máy tính xem các trang tiếng Việt trên mạng. Lần này về quê anh lưu lại khá lâu vì bên ấy không còn gì ràng buộc. Gần đến tuổi nghỉ hưu thì cũng là lúc Dạng chia tay với người vợ lắm lời cùng đứa con gái không nói được tiếng Việt của anh. Anh đã từ bỏ tất cả cũng dễ dàng như khi đến với nhau. Mấy ngày ở nhà tôi anh thường săm se chiếc hộp gỗ Thủy gởi lại nhưng không mở ra. Tôi hỏi, anh chỉ nói qua loa những gì trong đó anh đã biết rồi. Chiếc hộp là của anh tặng Thủy khi mới quen để cô giữ những bức thư và ảnh.
Anh lên về Đà Lạt và quê anh nhiều lần nhưng không ở nhà tôi. Khi chụp được vài kiểu ảnh đẹp hay gặp chuyện vui, anh rủ tôi nhâm nhi cà phê cùng trao đổi. Một buổi chiều, Dạng chuyền cho tôi một xấp ảnh cũ. Anh cho tôi biết Huyền, người bạn trong ba chúng tôi, đã chọn đến cái chết không bình thường ở xứ người. Huyền định cư ở một Bang lẻ cực bắc nước Mỹ lạnh giá, anh dị ứng với tiếng Anh nên mấy mươi năm ở Mỹ anh chỉ sống bằng nguồn tiền trợ cấp. Huyền nhớ Đà Lạt hơn nhớ quê hương anh. Đây là những tấm Dạng chọn ra trong mớ ảnh còn lại của Huyền. Tôi dừng lại ở tấm hình bốn chúng tôi (có thêm Thủy) dưới gốc mai anh đào bên hồ. Ảnh đen trắng nhưng tôi vẫn nhận ra màu mai anh đào đung đưa cùng gió xuân ngày ấy:
-Cây mai anh đào bên kia đường đối diện chỗ chúng ta đang ngồi đây. Ngày ấy còn hai nhánh, thân bổ nghiêng ra hồ. Cậu và Huyền vắt vẻo bám hai nhánh cây. Chụp hình xong Huyền rơi tỏm xuống hồ. Thật một phen cười hú vía.
Dạng nhắc lại kỷ niệm cũ dưới gốc mai anh đào ngày ấy. Cây mai anh đào tôi ngắm thường ngày mỗi lần hoa nở. Nhánh lớn nay chỉ còn một gốc khô, nhánh nhỏ lớn lên thay thế và đứng thẳng dáng hơn. Mai anh đào năm nay nở muộn sang xuân. Tôi nhìn một cặp tình nhân chọn ghi những kiểu hình đẹp dưới tán hoa. Câu hát ngày xưa chúng tôi thường nghêu ngao hiện về “Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai”.
Ngày cuối cùng Dạng rời Đà Lạt, chúng tôi trở lại quán cà phê này nhìn hồ chiều. Hàng mai anh đào đã rậm lá non, vài cánh hoa muộn lạc lõng trong màu xanh non nõn nà không đủ sức trì níu hương xuân. Dạng cho tôi biết ý định về sống lâu dài ở đây. Tôi nghĩ đó là một chọn lựa cảm tính. Tôi mơ hồ nhớ lại buổi trưa trò chuyện với An, con Thủy, trong ngôi nhà gỗ giữa vườn mận, đào. “Khi ra trường, cháu sẽ xin về dạy học tại trường này như mẹ cháu thường mơ”. Tôi bắt đầu hoang mang về mãnh lực của thứ tình cảm đầu đời nghiệt ngã.

4/2009
Ugno
.Vn