Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012
Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012
ÁO TRẮNG SÂN TRƯỜNG
Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012
TIẾNG TRỐNG TRƯỜNG
Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012
GIỬ LẤY LÒNG SON
Không mưaNước ngập đường quê
Xôn xao sợi nắng
Bước đi ngập ngừng
Ai đang thánh hóa ai chăng
Ai còn hò hẹn hoa giăng ngày về
Sau lưng
Cuộc sống vở đê
Tháng năm nhòa nhạt
Lời thề còn không
Ơi người
Người nhớ cho chăng
Sắt son giử lấy
Phong trần trên vai
Sắt son mẹ đặt vào nôi
Phong trần từ thủa còn ngồi ê a
Người ơi!
Người nhớ chăng là...
Tâm Quả
Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012
CÂU CHUYỆN LỬA TÀN-Hiệu Trường Trần Văn Mẫn
Lần về quê ăn tết vừa rồi, anh Nguyễn Khả Thành Khoá 10 cho tôi xem Bài diễn văn về CÂU CHUYỆN LỬA TÀN của Thầy Hiệu trưởng Trần Văn Mẫn nói với các khoá sinh khoá 11 thuộc trường “ĐÊM MÃN KHOÁ” vào hạ tuần tháng sáu bảy tư. Bài này được đánh máy trên 4 trang giấy peluyafor đã vàng ố vì dính bụi thời gian.
Xin phép được post lên Blog Hội Cựu Giáo sinh và in vào Đặc San Sư Phạm để Anh Chị Em đồng môn cùng đọc, chiêm nghiệm và suy ngẫm.
Nguyên Đạt


Anh chị em khoá sinh khoá 11 thân mến,
Đêm đã khuya, lửa cũng gần tắt. Trước khi chia tay, tôi muốn nói với Anh Chị Em đôi lời trong “Câu Chuyện Lửa Tàn” đêm nay.
Nhìn khu trường với hàng thông trầm-lặng từng chứng-kiến bước chân Anh Chị Em đi về, những công-viên hoa sứ nở muộn, những dãy hành-lang heo-hút gió đông hay phơi-phới gió hè dẫn vào những căn phòng nội-trú rộn-ràng những buồn vui đèn sách và tình bạn ý quê, nghe những khi đêm xuống từ lòng đại-dương sóng xa vọng lại nhiều thương nhớ bâng-khuâng, ưu-tư vời-vợi…
Những hình-ảnh và âm-thanh đó như thì-thầm nhắc lại bao kỷ-niệm vui buồn Anh Chị Em đã có nơi đây, gợi lại bao sinh-hoạt đã cùng nhau tham dự: nào những tối cuối tuần ngồi bên chén trà “Hội-hữu” hay “Sảnh đường” nghe thơ nhạc, hoặc nghe nhau kể-lể chuyện đời, nào những ngày đi công-tác xã-hội hay thực-tập giáo-dục cộng-đồng bận-rộn với dân quê, những buổi du-ngoạn tươi mát ý đời, những đêm văn-nghệ rộn-ràng niềm vui, cũng như những sáng chiều thường-xuyên thảo-luận, học-tập về chuyên-môn, v.v… Tất cả đều nói lên những tâm-tình Anh Chị Em đã có với nhau, với ngôi trường này.
Sau đêm nay, Anh Chị Em sẽ rời ghế trường chia tay về hè để sau đó vào đời chứ không còn trở lại trường cũ như mùa thu năm trước. Chúng tôi cầu chúc Anh Chị Em gặp nhiều điều vui trong đời, những niềm vui sâu-xa từ trong lòng mà có hơn là từ bên ngoài mà nên.
Tục-ngữ ta có câu “Câu chuyện nên quen. Chuyến đò nên nghĩa”. Anh Chị Em đã cùng nhau đi chung một chuyến đò dài. Nay tuy chưa đến bến cùng của sông-nước, nhưng mỗi người phải chia tay sang những con thuyền khác để lại tiếp-tục hành-trình dẫn tới quê-hương xa.
Giây phút phân-ly nào chẳng đượm buồn và đó cũng là thân-phận con người trên cõi thế. Nhưng, khi trăng khuyết rồi tròn, ly-hợp cũng là lẽ thường của cuộc sống, miễn sao trong cách xa mà vẫn không xa cách, và miễn sao đổi thay đều mang cùng một chiều hướng. Anh Chị Em hãy chấp nhận nổi buồn xa cách, trong tim mong vẫn còn niềm vui gặp-gỡ đây đó trên bước đường nghề-nghiệp ở một nơi nào đó trên giải đất quê-hương này.
Đời Anh Chị Em còn dài, dài đủ để không uổng công thắp sáng niềm tin trong đêm tối thiếu những ánh sao soi dẫn bước chân Anh Chị Em đi.
Tuổi Anh Chị Em còn trẻ, qúa trẻ để còn đủ thời-gian tự làm lấy cho mình những gì mình mơ-ước. Với tuổi đôi-mươi, chẳng có gì là muộn. Tất cả đang chờ đón Anh Chị Em: tình-yêu để yêu, tình-bạn để thương, tình quê-hương để nhớ, những nguyện-vọng để thực-hiện, nghề-nghiệp để phụng-sự, v.v… nghĩa là cả một cuộc đời để sống, để xây lên, hoặc nếu cần, để dựng lại.
Mỗi thế hệ có những vui buồn, những ưu-tư riêng, và mặc dầu thế-hệ này có liên-quan với thế-hệ khác. Than trách hay quy lỗi không phải là triết-lý đẹp của một hướng sống cao. Mỗi người trẻ phải tự nói với mình “dậy mà đi”, dù quê-hương có đổ nát mênh-mang vì bom-đạn vẫn chưa thôi trên mảnh đất nhỏ bé này, dù xã-hội có đang phân-hoá tàn-tạ vì cảnh tương-tàn thê-lương đã kéo dài hơn hai mươi năm qua.
Anh Chị Em hãy “dậy mà đi”, đi từ “đêm bây giờ” để tiến đến “đêm mai”, như Trịnh Công Sơn thuộc khoá đàn anh của Anh Chị Em đã hát lên rất chân-tình:
“Đêm bây giờ đêm quá hư vô,
Ôi con người mang trái tim khô.
Đêm bây giờ thắp sáng âu lo,
Hai mươi năm buồn vui hững-hờ”…
Như vậy “đêm bây giờ” dù “qúa hư-vô”, chỉ mang “trái tim khô” với những “âu-lo” và “buồn vui hững-hờ” cũng chẳng có thể làm cho Anh Chị Em buồn-nản, vì rằng đêm mai ngày mới là của Anh Chị Em hướng tới, để xây lên, để dựng lại, để “sống như chưa bao giờ”.
Tôi nhắc lại ý vừa diễn-tả: Anh Chị Em hãy dậy mà đi, lạc-quan vào đời, và tích-cực góp phần mình vào việc xây-dựng đời.
Trước giờ chia tay, tôi cũng muốn nói lại với Anh Chị Em một ước-mong chan-chứa ưu-tư này của trường. Chúng tôi ước-mong rằng dù hoàn-cảnh đời mỗi người chúng ta như thế nào, khi đã dấn thân vào một nghề là chúng ta phải chọn lấy cho mình một hướng đi đầy ý thức. Làm thân con người chẳng một ai có tự-do vô điều-kiện, ngoại hoàn-cảnh giới-hạn. Cho nên giá-trị của con người tự-do là chấp-nhận cái mình phải chọn, và như vậy giá-trị ở thái-độ chọn hơn là ở điều-kiện hay phải chọn.
Tôi tin rằng sau hai năm học ở trường này, Anh Chị Em đã thấy rõ hướng đi phải có của cuộc đời. Mai đây trên bước đường phụng-sự, cầu chúc Anh Chị Em ngày càng vui, yêu nghề và làm được những gì Anh Chị Em muốn làm trong khả-năng của mình.
Tôi cũng tin rằng trong một tương-lai không xa đất nước chúng ta phải được thanh-bình. Khi đó, và ngay cả khi này, cánh đồng văn-hoá giáo-dục cần nhiều nông-phu, những người đổ mồ hôi trên từng mảnh ruộng để cầy, bừa, gieo, cấy, đợi mùa gặt đến đem vui tươi, no ấm cho các xóm-làng thân-yêu.
* * *
Đêm đã khuya, lửa cũng gần tắt, tôi đã nói gì với Anh Chị Em trong câu chuyện lửa tàn đêm nay?
Một lần nữa, nhìn lại khu trường với hàng thông trầm-lặng từng chứng-kiến bao bước chân Anh Chị Em đi về, những công-viên hoa sứ nở muộn, những hành-lang heo-hút gió đông hay phơi-phới gió hè dẫn vào những căn phòng nội-trú rộn-ràng những vui buồn đèn sách và tình bạn ý quê, nghe những khi đêm xuống từ lòng đại-dương sóng xa vọng lại nhiều thương-nhớ bâng-khuâng, ưu-tư vời-vợi…
Nhừng hình-ảnh và âm-thanh đó như vẫn thì-thầm nhắc lại bao kỷ-niệm vui buồn Anh Chị Em đã có với nhau, với ngôi trường này.
Mai đây trên các nẻo đường đời, có khi nào tưởng lại quãng thời gian cuối cùng của những ngày đèn-sách, có lẽ những hình ảnh và âm thanh trên sẽ còn đậm ít nhiều nét sống vấn-vương bên lòng Anh Chị Em chắc không đến nỗi tàn-phai như những vang bóng một thời bị chìm quên vào dĩ vãng.
Anh Chị Em hãy thỉnh thoảng nhớ đến trường cũ, và nhất là nhớ đến nhau, thương mến nhau, nâng-đỡ nhau trên những bước đường đời.
Trong những năm Anh Chị Em sống nơi đây, chúng tôi không nghĩ là đã làm được tất cả cho Anh Chị Em, nhưng chúng tôi đã hết lòng với Anh Chị Em.
Phần Anh Chị Em trong hai năm qua đã cùng nhau đi trên một chuyến đò mà trong hành-trình có những khi chiều xuống, đêm về cắm sào dừng nghĩ ở nhiều bến nước, ngắm trăng thanh đón gió mát cho vui bên bước giang-hồ mà vẫn nhắn nhủ nhau rằng những bến nước ấy chưa phải là bến cùng của quê-hương xa.
Nay chuyến đò chung đã đến lúc rẽ bến, mỗi lữ-khách phải rời đò để đi tiếp lộ-trình còn dài. Chặng đường sẽ vắng-vẻ hơn và lữ-khách sẽ thấy thổn-thức nỗi cô-đơn trên đường đời. Nhưng Anh Chị Em nên nhớ thân-phận con người là cô-đơn.Trong cô-đơn ta gặp được mình, ta gặp được người, ta gặp được Trời... Nhưng cô-đơn mà đừng cô-độc. Muốn vậy, Anh Chị Em hãy luôn nhớ đến nhau, thương mến nhau, nâng đỡ nhau trên những bước đường đời.
Trải qua nhiều năm sống, rồi Anh Chị Em sẽ học được kinh-nghiệm sâu đậm này là chẳng có gì quan-trọng trong đời ngoài tình thương mến nhau. Tình thương mến ấy như “trăng sáng trên môi hoa”, “xua bóng tối trong hồn ta” để ta “tìm về bên nhau” và để “tình người nở đêm sâu" như Đăng Lan hát trong “Thương quá Việt Nam”:
“Trăng sáng ngời trên môi hoa,
Trăng lên tiếng hát vui đêm già,
Trăng sáng ngời trên non xa,
Trăng xua bóng tối trong hồn ta.
Sáng lên trăng, sáng lên trăng,
Sáng cho người tìm về bên nhau,
Sáng lên trăng, sáng lên trăng,
Sáng cho tình người nở đêm sâu”…
Trên đường đời sẽ có những đêm thiếu ánh trăng sao, nhưng trong lòng chúng ta ánh trăng chẳng bao giờ tàn, vì mãi mãi chúng ta vẫn có lòng thương mến nhau.
Anh Chị Em thương mến!
Trên đường đời nghề nghiệp đã chọn, Anh Chị Em hãy can đảm bước lên. Niềm tin của Anh Chị Em ấy là niềm tin của chúng tôi và cũng là ý đợi của quê-hương này.
Cuộc đời là một đi tìm để được gặp, và trên hành-trình tìm gặp đó, hành-trang của chúng ta phải có nhưng đơn-giản, trút bỏ những bận tâm vô-ích, những so-đo nặng-nề để được nhẹ-nhàng như cánh diều nương gió lên cao.
Thương mến từ-biệt Anh Chị Em.
Hiệu trưởng
Trường Sư Phạm Qui Nhơn
Trần Văn Mẫn
THƯ THĂM HỎI CỦA CÁC THẦY SPQN
Thư ngỏ của thầy Đàm Khánh Hỷ
Anh Chị Em Cựu Giáo sinh SPQN thân mến
Tôi rất vui mừng và cảm ơn vì anh, chị, em đã tạo được một trang Web, và tôi đã sử dụng nó để liên lạc và trao đổi cùng nhau. Nếu tình yêu thương là sự chuyển tải thông tin giữa các đối cực, là điều kiện tất yếu của vị thầy, thì điều này chứng tỏ tình thương yêu của anh, chị, em ngày càng sâu đậm cho dù phương vị ngày càng cách xa.Không gì hơn, tôi mong anh, chị, em cùng tất cả gia đình sống tròn đầy với hiện tại và giữ gìn sức khoẻ để hoàn tất ước nguyện của mình.
Dưới đây tôi xin gởi đến trang Web SPQN cảm nghĩ của mình khi nhìn lại diện mạo một số học trò cũ, cũng như tấm huy hiệu già nua trên trang Web đã một thời gắn bên cạnh trái tim của anh, chị, em.
Thầy ở trong tâm - Vị thầy cao nhất;
Khuôn mẫu làm thầy - Chẳng hề hạn hẹp.
Theo thiện bỏ ác - Là trở về mình;
Để được thành nhân - Cần dạy và học
Phạm vô giới pháp sư chi Phạm
Qui thiện khứ ác thị hồi Qui
Nhơn dĩ giáo học vi thành Nhơn
Rất vui vì còn được các anh chị nhớ đến.Tôi ở khá xa thành phố, lại ít khi đi đâu nên không có dịp gặp hoặc liên lạc với các bạn cựu giáo sư và cựu giáo sinh Sư Phạm Qui Nhơn. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng có gặp vài bạn liên lạc hoặc đến nhà chơi. Những lúc đó tôi thật vui.
Chị Quỳnh Hoa nhắc lại chuyện xưa tôi thấy vui vui. Cám ơn anh chị nhiều. Chúc các anh chị và gia đình luôn Vui-Trẻ-Khỏe. Mong giữ mãi tình bạn.
Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012
Khung Trời Tuổi Mộng
Tôi nhớ năm thứ nhất Sư Phạm, khi các giáo sinh còn ở khu nội trú cũ, tôi và KL hai đứa học cùng lớp, lại được ở cùng phòng 12 nên rất thân nhau, KL nằm giường tầng trên ngay giữa phòng, còn tôi thì nằm bên tay phải trong góc. Tuần lễ đầu tiên ai cũng hớn hở vì được thoát khỏi sự kiểm soát của cha me, lại bận rộn vì phải lo làm quen, tìm lớp, lấy sách vở, việc ăn uống thì khoẻ ru, chỉ đợi đến giờ là đi xuống phòng ăn thôi, thiệt là tự do. Vậy mà nửa đêm tỉnh giấc, nghe phía góc phòng bên kia có tiếng thút thít, tự nhiên đứa nào cũng cảm thấy mũi lòng, cùng nức nở khóc theo. Ôi chao! Nhớ quá, nhớ nhà, nhớ ba, nhớ me, nhớ em, nhớ ngay cả o bán bún ở góc đường Chi Lăng miệng nói dẻo nhẹo, lại khéo tay hay làm. Mấy chị khóa trước thì đã có kinh nghiệm nên cứ cười bọn đàn em mít ướt.
Phòng chúng tôi nằm ngay cạnh phòng chị Trinh và chị Hậu, khi nào thầy Tâm (GIám học) hoặc thầy Mẫn (Hiệu trưởng) đi thăm nội trú là trở tay không kịp. Đứa thì lo thu dọn áo quần bừa bãi, phơi phóng lung tung, đứa thì vội dấu lon guigoz đựng mì gói, giấu giếm những cuộn len còn đan dở giữa chừng…vv… Mấy phòng bên cạnh sướng thiệt, nghe phòng bên chộn rộn là kịp thời lo dọn dẹp đâu vào đó, rồi còn đem sách vở ra làm bộ học, bởi vậy tụi nó được khen, trong khi phòng chúng tôi thế nào cũng bị mấy cái nhìn khắt khe của Ban Giám thị. Khôi hài là cả bọn cùng phòng chúng tôi sau khi thoát nạn, nghe ngoài hành lang và tầng lầu trên rộn ràng tiếng chân chạy như bị ma đuổi mà không đứa nào dám cười.
Tôi cũng còn nhớ, phòng 12 nằm gần cầu thang và cũng chính là chỗ mà thân nhân của giáo sinh hay đứng chờ ở hành lang bên dưới, họ nhìn lên hai tầng lầu, có lẽ trong lòng vừa nôn nóng, vừa đang hình dung chỗ sinh sống của các cô thiếu nữ như những cánh chim bay về từ khắp nơi của miền Trung nước Việt? Chúng tôi thường hay đứng ở lan can lầu giả vờ ngắm trời mây, nhưng thật ra cũng cố tình xem mặt những người bên dưới, lòng ao uớc phải chi mình cũng có thân nhân đến thăm như mấy chị người bản địa. Những giáo sinh ở xa như chúng tôi hiếm khi có thân nhân tới thăm, chỉ có các bạn ở Tuy Hòa hoặc Nha Trang, Pleiku thì có gia đình thỉnh thoảng đến thăm. Lâu lâu lại có các anh CTCT, VBĐL, Hải quân vào trường đứng dọc hành lạng nhìn vu vơ đám con gái. Dạo đó còn thêm chuyện các cô tham gia mục Tìm bạn bốn phương trên báo, hẹn chàng đến trường để gặp, ngày chàng đến thì trốn trên phòng nằm im thin thít, rồi nhờ người nhắn hộ là đã đi ra phố, để chàng đứng thẩn thờ suốt buổi, đành phải ra về. Có cô còn phịa ra một cái tên giả, khi khách đến gọi tên thì hỡi ơi chỉ là tên ma. Anh chàng nhìn lên hành lang nội trú chỉ thấy thấp thoáng các cô tò mò với ánh mắt tinh nghịch chạy ra chạy vào mà mặt mày buồn xo...
Nhớ hôm nào cả bọn đã thức suốt đêm lửa trại bên trường Kỳ thuật, dạo đó nhạc TCS thiệt là thông dụng, ai ai cùng ngân nga Diễm xưa va Biển nhớ. Lửa đêm bập bùng cháy, biển réo gọi ầm ì, gió đưa dương liễu kêu vi vút, bạn bè rôm rả trò chuyện chung quanh, vui quá xá là vui. Lúc đó ai cùng muốn thời gian dừng lại.
Ngày trường tổ chức đi thăm Cù Lao Xanh trở về, tôi bị say sóng nằm trên giường mà cứ ngỡ là đang ngồi trên chiếc tàu há mồm chở mình đi, khiến mấy cô bạn ở giường tầng trên phải đi ngủ chỗ khác vậy mà chả một ai thèm giận dỗi hoặc than phiền; tình thân vẫn bền vững. Những buổi chiều chủ nhật cuối tháng hết tiền, không đi phố xem Ci-nê, không mua được bánh mì trước rạp hát Kim Khánh, mà ở nhà thì buồn; vậy là mặc dù không có đạo tôi cứ níu tay cô bạn công giáo người Quảng Trị năn nỉ: “Cho tau đi nhà thờ với mi nhé”! Mãi đến giờ chắc cô bạn ấy cũng không hề biết tôi đi nhà thờ để quên nỗi cô đơn của mình…
Qui Nhơn ít mưa nhưng mỗi khi chiều xuống thì gió khá lạnh, những ngọn núi phía bên Khu 6 trở nên tím thẫm và có vẻ xich lại gần với ngôi trường Sư Phạm hơn. Sau giờ cơm chiều, chúng tôi thường rủ nhau đi dạo ở công viên có những cây trúc đào, thỉnh thoảng đi qua ngả trường Kỹ thuật dưới những hàng thông, ngoài xa sóng biển vỗ bì bỏm, người lính Mỹ lặng lẽ ngồi trên chòi canh bên kia hàng kẽm gai trông cô đơn lạ. Ôi! Bức tranh đó cho tới bây giờ trong đầu tôi vẫn không thay đổi .
Những bạn nào đã từng học Trường Sư Phạm Qui Nhơn có ai chưa một lần nhảy qua nhừng mỏm đá ở Ghềnh Ráng không nhỉ? Có bạn nào không thấy bâng khuâng buồn bã khi trở về từ Trại Cùi Qui Hòa? Có ai không cảm thấy lòng thanh thản khi đi thăm chùa Nguyên Thiều? Và có ai dửng dưng khi đứng trước nhũng ngôi tháp rêu phong của người Chàm?
Còn những buổi trình diễn văn nghệ Thiên Thai, Hận Đồ Bàn và được tán thưởng nhiệt liệt, TMT thì hát hoài bài hát Bài Hương ca vô tận. Hát nũa đi Hương, Hát nũa đi Hương, Hương ơi, bài hát đeo đuổi chúng tôi suốt bao năm tháng xa quệ.
Năm lên Nhị 5 thì chúng tôi đã là đàn chị, lại đến phiên được “quyền” trêu chọc mấy em khóa sau. Lúc nầy thì tất cả đều đã dọn vào khu nội trú mới, chúng tôi còn nhớ SPQN được đi vào trại lính của Đai Hàn để xem họ trình diễn văn nghệ. Áo quần Đại Hàn đẹp ơi là đep. Chúng mình dạo nầy thì bận bịu vì phải đi Giáo dục Cộng Đồng, đi trường Sư Phạm thực hành, khi về thì thế nào cũng ghé vô chợ Khu 6 để mua bánh hỏi và rau mắm, trái cây. Xe lam về trường Sư Phạm chạy rú ga ầm ỉ, nhả khói phóng đi sau khi đổ các cô gái tay xách nách mang hàng quà kẹo bánh, vội vã sãi chân về phòng băng qua sân công viên và những cửa phòng của tầng lầu một.
Năm đó khóa 7 và 8 gặp không ít chuyện tai ương, cầu mong ai bây giờ cũng được bình yên.
Vậy mà đã 42 năm, ngày ra trường, nắm Sự vụ lệnh trong tay, bịn rịn chia tay mỗi người mỗi ngả, hẹn hò với nhau đủ thứ, nhưng rồi quên mất lời hứa là sẽ thăm hỏi nhau thường xuyên, dòng đời ngược xuôi, lo toan đời sống, tưởng đã quên nhưng nay thì đã có dịp để gặp lại, giữ tròn lời hứa, nghĩ cũng nhờ ơn Trời và Mẹ Sư Phạm Qui Nhơn nhỉ?
Tháng 3/2012
Phan Liên K7
Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012
Phù dung
Từ đêm thiên cổ lạc vào đêm nay
Xiêm vàng áo giấy lay bay
Mơn man nét khói đường mây đa tình
Em từ quê quán Vô Minh
Thoát thai cát bụi tái sinh đào hồng
Khuya nay mở quán Phù Dung
Mời ta khai vị sắc lòng phấn hương
Đêm xưa tao ngộ Tầm Dương
Nhận ra dòng dõi đoạn trường với nhau
Khóc cười chung một bể dâu
Tài hoa đồng hội khổ đau đồng thuyền
Phong trần xé áo rách xiêm
Ba đào đắm mộng truân chuyên hớp hồn
Ta chơi vơi giữa sinh tồn
Em chưa thoát nợ phấn son kiếp nào
Đêm nay rượu gởi tình trao
Đề thơ lên cửa chiêm bao, chạnh lòng…
Lạnh dần một quán hư không
Khép dần một đóa phù dung vô hình
Em chìm xuống đáy Vô Minh
Bỏ ta trên bến nhân sinh bàng hoàng
Sương rơi, đêm cạn, quán tàn
Cô đơn vòi või trần gian ta ngồi
Chung quanh vẫn vậy: cuộc đời!
Phạm Ngọc Lư, khóa 4 (1965 – 1967)
Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012
Chiều Qua Chùa Cầu
Cái Trọng Ty K4
màu thưở ấy của một trời biên biếc
trong cỏ cây là lạ nỗi mong manh
giữa sóng tình ngất ngây chiều se lạnh
viên sỏi lạc hồn rơi xuống dậy hồ thu
như con dế mèn cất giọng tỉ tê
phố hội tôi về buồn vui thân thế
về chi đây chờ cỏ uá phục sinh
hoang mang bến bãi nhàu tâm sự
qua chùa cầu thưở môi mắt hồn nhiên
nhan sắc phù vân một thời lưu luyến
đêm trăng non vàng nát cõi thiên đường
tình lận đận mây dật dờ mất hướng
chiều bên em mà lạnh gió mưa ngâu
thấy bên kia cầu phố cũ ưu sầu
chiều hiu hắt mờ lên mái khói
bụi đưòng xa lốc xoáy áo thu bay
cuộc tình đa đoan tình say tha thiết
trong tro than khêu ngọn lửa bếp tàn
trong quán lạ nhâm nhi mùi rượu nhạt
ngoài trời mưa mau còn ấm hơi cay
như con ngựa què loanh quanh máng cỏ
thấy trong mắt em trời chiều mưa gió
chiều mưa qua hồ lạnh rét căm căm
Lao Xao Sóng vỗ
Người xưa thường ví cuộc đời như bóng câu qua sổ, nó trôi đi thật nhanh, mới đó mà đã đến lúc da mồi, tóc bạc, đến tuổi “xưa nay hiếm”, cái tuổi mà khi còn nhỏ nhắc đến thấy ớn da gà, mà nay chính mình đang nằm trong hiện thực. Với độ tuổi này thì chẳng mấy đẹp, nên tâm hồn thường hoài niệm về quá khứ, tuổi thơ, độ thanh xuân… Vì đó là khoảng thời gian đẹp nhất mà nhiều người cảm thấy thú vị, thoải mái, vô tư, yêu đời nhất.
Tuổi thơ có những trò chơi nho nhỏ cùng bạn bè, những người thân thích đồng lứa tuổi, như đánh bi, ù mọi, đánh căn cù, bơi lội, câu cá, bắt bướm, hái hoa, trốn tìm, nhảy dây…Đến độ tuổi thanh xuân, sự kết tình bè bạn nó ở trong những cảm nhận khác, ngoài những bạn trai, còn có thêm những người khác phái. Như Đán là một người bạn thân của tôi, anh ta đã kể cho tôi nghe về những người bạn gái (theo nghĩa V.N.) khi anh bắt đầu học lớp Đệ Tam (lớp 10) cho đến khi anh vào học trường Sư Phạm Qui Nhơn.
Đán tâm sự với tôi như thế này (chỉ ghi lại những chuyện nằm trong khoảng thời gian cần nhắc đến mà thôi):
”Qui Nhơn là cái tên mà tôi(Đán) nghe từ nhỏ do bà dì ruột tôi kể lại, vì có một thời gian bà theo chồng làm Ty Điền Địa ở đất này, hồi đó nghe xa vời làm sao, nhưng bây giờ tôi đã đặt chân đến.
Qui Nhơn có một cảnh biển đẹp, với bờ cát trắng một phần được phủ bóng bởi những hàng dương im mát, thanh tịnh. Tôi rất thích thú được ngồi dưới những chiếc dù tự nhiên ấy để hưởng gió mát khi chiều lên, hoặc vào những sáng chủ nhật thả bộ ra đó để bơi lội, vui đùa với sóng. Tôi rất thích nước, nên biết bơi từ hồi nhỏ, vì tôi được sinh ra bên một dòng sông mang tên gọi “Người tình”, và lúc học trung học thường cùng bè bạn ra bến Văn Lâu (không phải ngồi câu) mà để lao mình xuống nước, gội rửa những mồ hôi đất bụi sau mỗi chiều đá banh; có hai điều phải lưu ý khi tắm ở bến này là: gốc dừa nhọn nhô lên mặt nước và những “củi súc”bềnh bồng trôi theo dòng …
Thôi thì, bỏ lại những con sông quê hương, để đến với biển cả, biển Qui Nhơn_đúng thật là Qui Nhơn, vì mảnh đất này là nơi hội tụ những cánh nhạn từ muôn phương về đây cùng chung một mái trường Sư Phạm, có thể từ đó đượm tình đơm hoa kết trái. Có những con ong chỉ hút nhụy hoa thơm ngọt rồi sải cánh bay xa, trái lại có bông hoa chỉ mở ra nhởn nhơ trong quãng thời gian ngắn ngủi rồi từ từ khép lại, làm cho đôi bên phải thẩn thờ, ray rức khôn nguôi…
Nhưng với Đán chẳng sao cả, hình như chàng không có duyên nợ với những nàng “Gõ đầu trẻ”. Thấy người ta cặp kè, hò hẹn, chàng cũng cố tranh thủ bắt chước, nhưng chẳng đâu vào đâu. Ví như có khoảng thời gian chàng làm quen với Hà, người bạn học cùng lớp, nơi nàng cũng có vài kỷ niệm nho nhỏ như: tặng nón bài thơ xứ Huế cho nàng, hẹn gặp nhau ở bãi biển để hóng mát, chụp hình (chỉ chụp thôi). Hà nói giọng Nha Trang với cái miệng mom móm thời đại, nét mặt xinh, ăn ảnh với độ tuổi tương đồng với Đán.
Ý tưởng của Đán bao giờ cũng nhìn người mình thích dưới một lăng kính màu hồng, bao giờ cũng thanh cao, trong trắng, trinh nguyên. Nhưng không may vào một buổi chiều chủ nhật, Đán lên trường Sư Phạm tìm Hà, thì thấy nàng cùng bốn, năm người bạn xách một số đồ hộp chạy dọc hàng rào ngăn cách giữa trưòng và khu quân sự Mỹ, tự nhiên Đán cảm thấy thất vọng, chàng liền quay xe trở về và từ đó dù ở bên bờ biển mặn, nhưng những hạt muối không thể làm mặn mà lại một chút tình mỏng manh, mới chớm trong sương chiều.
Qui Nhơn đất gầy, Đán ở đó cũng gầy theo, gầy đến nỗi sợ bị bay nhào xuống eo biển mỗi lần đạp xe qua cuối đường phi đạo(nếu gặp lúc máy bay cất cánh), nên có lúc Đán nghĩ: chắc mình phải đèo theo một cục đá ở porte bagage mới yên tâm. Hồi đó, con ngựa sắt vốn biết mình cứng cỏi, nên nó bèn bàn với Đán: Nếu muốn được an toàn và êm êm một chút thì ông chủ nên chở vật gì đó mềm mềm thôi nghe!
Chuyện nghĩ chơi thành thực, cũng là một sự tình cờ, có người nhờ Đán chở một giáo sinh (sau Đán một khóa), xuống phố thăm bà dì vào những ngày chủ nhật. Cô ta dáng thon gầy nên không trở ngại trong việc đưa nàng đi lại. Nàng mang cái tên nhẹ nhàng dễ thương, như “tên hiệu bột trẻ em ăn” thời bấy giờ (dễ nhớ cũng dễ quên). Tôi không nhớ những gì tôi đã nói với nàng trên quãng đường ngắn ngủi đó, có thể tôi hỏi han rất ít, vì tính nàng trầm lắng, nhu mì. Đối với tôi, nàng giống như một trong một áng mây trắng, nhẹ nhàng mơ màng bay qua trời tôi…
Rồi lại một áng mây trắng nữa, nhưng áng mây này cuối cùng một nửa pha đen và hình như có vài giọt nước rơi rơi… Đán không quen nàng từ thuở còn đi học, chỉ nghe phong phanh tên nàng từ những bạn bè ngưỡng mộ thỉnh thoảng nhắc đến mà thôi. Nàng tên Hồng Liên, một cái tên đẹp, mỗi lần nhắc đến là Đán nghĩ về hồ Tịnh Tâm, một cái hồ rêu phong, thơ mộng cho những cặp tình dưới ánh trăng mờ. Nhưng Hồng Liên không sống trong Thành nội Huế, mà ở một phương trời xa, nên Đán chỉ gặp mặt nàng trong khoảng thời gian chuẩn bị trước khi đi học trường Sư phạm. Buổi gặp đầu tiên đó đã tạo cho Đán một ấn tượng nhẹ nhàng, hay hay về nàng, hình như trong chàng có một ý tình sâu xa, một giấc mơ đẹp cho mãi về sau…
Thế rồi, cũng chỉ là cơn mộng, chàng cảm thấy hụt hẫng, khi phải chứng kiến đôi tình nhân sớm chớm nở trên bờ cát trắng dương xanh. Ồ! Có lẽ nàng đã bắt gặp được đối tượng, cũng mừng cho nàng; mừng trong sự xót xa, như đánh mất một vật gì quí báu trong túi chàng vậy.
Từ đó, trong tâm Đán, chàng chẳng nghĩ gì về Hồng Liên, coi đó là một sự vô duyên đối với Đán. Trong khoảng thời gian này, Đán cũng có một tà áo tím lỡ quên bên vườn thôn Vĩ, một cánh nhạn trắng dưới hàng me Sage Femme_ Huế và đặc biệt là một tờ giấy trắng trinh nguyên chưa hoen màu mực với mái tóc thề đang ươm gió biển bay bay.. . Thời buổi đó, Đán cùng bạn bè thường bàn thảo với nhau chuyện yêu thương đơn thuần hay trong đó có chuyện cộng chung “chỉ số”, tất cả đều tùy hoàn cảnh từng người, có người coi trọng phần này, có kẻ đặt nặng phần kia, nếu có sự cộng hưởng cả hai đằng thì càng quí. Nhưng cuộc đời đâu phải muốn gì cũng được, thường thì được cái này mất cái kia, nên chỉ cần chọn điểm mà mình ưa thích nhất là được.
Trở lại với Hồng Liên, một chuyện coi như đã qua đối với Đán. Nhưng có lần bất ngờ Hồng Liên muốn đi chơi Ghềng Ráng cùng một số bạn, trong đó có Đán. Thấy H.L. rất dịu hiền, xinh xắn như con sáo sậu, nhảy chuyền qua các hòn đá…Làm cho Đán liên tưởng đến bài ca “Ai đem con sáo sang sông…” . Rồi chàng nghĩ tiếp: Có lẽ gặp lúc chuyện tình nắng mưa trở chứng, nên nàng muốn xé lẻ để thay đổi không khí, mượn người khác để giải khây vậy thôi! Nên Đán coi đó như chuyện gió thoảng mây bay, không bận tâm vướng mắc đến nàng.
Đán biết trước khi vào Qui Nhơn, H.L. đã có “bồ”, tuy nhiên chắc không được đậm đà gì cho lắm, nên lúc đến đây nàng sang số một cách tỉnh bơ, dễ dàng như nước chảy lá môn. Đán không mặc cảm với người tình cũ xa cách núi sông, mà chỉ để tâm với kẻ thực tại, đôi lúc thấy sao sao khó tả. Chàng có cái tính không thích dây dưa với cuộc tình, dứt là dứt hẵn và thường có một bóng hồng tiếp nối điền vào khoảng trống. Nên lúc đó hình ảnh H.L. coi như đã qua, không còn rung cảm, xao xuyến mỗi khi chàng gặp nàng. Với những cảm nhận không đẹp đó đã ăn sâu vào tâm khảm Đán, nên khi trở về quê, chàng đã làm cho mẹ chàng buồn không ít, mẹ đã khóc khi khuyên Đán hãy kết duyên với H.L., một điều làm cho chàng phải ray rức, đành mang tội thất hiếu đối với mẹ. Mẹ nói trong giọt nước mắt là “hai gia đình đã hứa hôn với nhau rồi con ơi!” Làm Đán hết sức phân vân và xót xa về chuyện tình trắc trở đó…Chàng chỉ biết ngậm ngùi thật tình xin lỗi những người lớn cả hai bên và xin lỗi chính nàng, vì giữa hai người có duyên mà không nợ vậy!”
Đó là những chuyện “tình giáo sinh” của Đán, bạn đã kể cho tôi nghe sau hơn bốn mươi năm xa cách, nhân một cơ hội được gặp lại nhau trên đất khách quê người. Tôi thấy cuộc đời Đán thi vị hơn tôi nhiều, tôi thì khô khan như sỏi đá, cục bắt hòn, cha mẹ đặt đâu ngồi đó, trường cữu như sóng vỗ bờ.
Đời người thay đổi và đất trời cũng đổi thay theo. Bờ biển Qui Nhơn không còn thơ mộng như xưa, giờ đây phi đạo trở thành vườn nhà chen chúc, Thị Nại không còn mang tên đầm đìa nữa, mà biến thành phố xá, thật đúng với câu mà người xưa thường nói: “Thương hải biến vi tang điền”. Và chúng ta cũng vậy không còn nhởn nhơ mơ “trăng mờ bên suối”, với mái tóc thề đen láy, cùng tà áo trắng bay bay…Tất cả đều nhường lại, quay về thực tại là có thể cặm cụi vui chơi với đàn cháu nội, ngoại, hay ra vườn chăm sóc hoa quả (thực vật) hoặc ngày ngày thả bộ ngoài trời hít thở cho “ngọc thể cổ” được sáng tươi lâu dài hơn, thêm bước nữa là tham gia việc xã hội, từ thiện, tôn giáo, hội ái hữu để ôn lại những kỷ niệm vui, buồn xa xưa… Còn với biển, con sóng bạc đầu vẫn mãi mãi lao xao…
Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011
NGẢ RẼ MỘT DÒNG SÔNG
Thủy đưa mắt thấp thỏm nhìn ra bên ngoài, thấy bầu trời dần dần hửng sáng trở lại, bụng khấp khởi mừng thầm. Cuối cùng thì cơn mưa dai dẳng suốt buổi chiều cũng tạnh hẳn; nếu không có đống bao xi-măng vừa thu mua được trong ngày có lẽ nàng đã đội mưa đạp xe về từ lâu để kịp lo bữa cơm chiều cho con cái. Nghĩ cũng buồn cười và có vẻ gần như mâu thuẫn, mới hồi trưa đây thôi, nàng đã mừng rỡ vì thu mua được nhiều bao, vậy mà bây giờ nàng thấy đống bao ấy là gánh nặng khó có thể kham nổi suốt chặng đường về. Tội nghiệp lũ trẻ, đợi mẹ tới khuya chắc đói bụng lắm đây, nhà có phần bẩn chật khó nghèo nên bao nhiêu tiêu chuẩn đều dồn cả vào bữa ăn chính, lắm bận mắc việc về nhà muộn, nàng muốn la rầy lũ trẻ cứ khư khư ôm bụng đói chờ mình nhưng rồi thấy chúng mặt mày rạng rỡ tíu ta tíu tít dọn cơm, trong lòng tự nhiên dịu lại. Ôi! Những cử chỉ săn sóc dù nhỏ nhoi nhưng biểu hiện biết bao yêu thương trìu mến. Vả lại, tạo được nề nếp gia đình như thế cũng tốt thôi. Cứ mỗi bữa ăn, cả nhà lại quây quần đông đủ bên nhau, và nàng mỉm cười hạnh phúc với bầu không khí gia đình thuận hoà đầm ấm, quên đi những nỗi truân chuyên của cuộc sống đời thường.
… Những sợi nắng cuối ngày đã tắt hẳn từ lâu. Xóm làng bắt đầu chìm khuất dần trong màn đêm thẫm đậm. Đạp xe dưới vòm tre dày dặc, Thúy gần như phải mò mẫm từng li, từng chút. Không khí mát dịu nhưng lưng nàng thì ướt mượt mồ hôi. Một vài lọn tóc xổ ra dính bệt vào trán, nàng cũng chẳng buồn để ý. Đống bao xi-măng cột chặt sau pọc-ba-ga càng lúc càng nặng trĩu như có ai đó trì níu lại. Nàng chơi lại trò chơi từ thuở nhỏ: thầm đếm một, hai… cố giữ cho đôi chân rã rời theo kịp vòng quay chiếc xe đạp mi-ni. Mải cắm cúi đạp, khi ngửng đầu lên, nàng mừng rỡ quá đỗi vì ánh đèn thành phố hiện rõ trước tầm mắt. Chỉ còn một quãng ngắn nừa thôi là sẽ tới nhà… Nàng rướn người trên yên xe, vội vã băng qua ngả tư con giao lộ để vào thành; đột nhiên trước mắt nàng loá lên ánh sáng của ngọn đèn pha và tiếng còi chói tai. Nàng giật mình, lạc tay lái, loạng quạng đâm sầm vào cột điện ở góc đường… Hình như trước lúc ngất đi, trong mơ màng, nàng vẫn cố gọi hai tiếng: “Bình ơi! Bình ơ…ơi!...”
… Sau tháng tư năm bảy lăm, Thúy bị lạc mất chồng, rồi tiếp liền sáu bảy năm sau đó, do nằm trong diện giáo viên thuộc chế độ cũ được lưu dung, nàng bị thuyên chuyển về dạy học ở một ngôi trường thuộc vùng quê xa xôi hẻo lánh, thiếu hẳn phương tiện giao lưu nên càng bặt tin chồng hơn. Lần hồi theo thời gian, nàng gần như mất hết hy vọng gặp lại Bình, người chồng yêu thương ngày cũ. Khoảng thời gian này nhờ ở sổ gạo và số tem phiếu ăn theo do nhà nước cấp, mấy mẹ con cũng sống tằn tiện đắp đổi qua ngày. Thế rồi nàng được thuyên chuyển về lại thành phố theo nguyện vọng. Lúc đó những khó khăn mới bắt đầu nảy sinh. Nhà cha mẹ chồng đã có cô Ba và chú Út dời về ở chung nên nàng phải xin nhà trường thu xếp cho một góc nhỏ phía sau nhà kho để ở tạm. Góc nhỏ ấy không đủ chỗ cho cả bốn mẹ con, nàng buộc lòng xin gởi đứa con trai nhỏ nhờ ông bà nội nuôi giùm. Chuyện ở như thế cũng tạm ổn, nhưng nào chỉ có chuyện ở bởi vì các con nàng đang độ tuổi lớn, những nhu cầu về ăn mặc, sách vở… ngày càng bức thiết hơn. May mà chỗ ở khá gần ga xe lửa nên nàng bắt chước một số bà con lao động trong xóm sắm một đôi thùng, dăm ba cái thau nhỏ, gánh nước lên sân ga, chờ những chuyến tàu xuôi ngược Bắc-Nam đổi cho hành khách rửa ráy mặt mày tay chân kiếm ít tiền gọi là cải thiện thêm bữa ăn hằng ngày. Nhờ vậy, mấy đứa nhỏ khi ngồi vào mâm, mặt mày bớt nhăn nhó bởi nồi cơm quá nhiều chất độn.
Vào một ngày đẹp trời nào đó khoảng gần cuối năm, đứa con trai nhỏ được phép ông bà về chơi nhà, lần này không hiểu sao cứ nấn ná mãi tới chiều vẫn chưa chịu rời; gặp lúc chỉ còn hai mẹ con, nó chợt thủ thỉ:
-Mẹ ơi! Nội vừa nhận được thùng hàng lớn lắm. Có cả máy hát nữa mẹ ạ!
Nàng ngạc nhiên hỏi:
-Hàng của ai gởi vậy con?
-Dạ… Con không biết. -Thằng bé tiếp: -Khi người ta đưa hàng tới, ông nội, cô Ba và chú Út ngồi thì thầm bàn chuyện với nhau lâu lắm, lũ nhỏ tụi con thì nội đuổi ra ngoài chơi, không cho lại gần.
Câu chuyện đứa con trai vừa kể, tự nhiên khiến Thủy đâm ra bận tâm, thằng nhỏ đi từ lâu rồi mà nàng cứ ngồi thừ bên chậu rửa chén mải miết ngẩm ngợi “Từ ngày về làm dâu nhà này trước sau hơn chục năm, mình có thấy ai trong số anh em bà con nội ngoại ở nước ngoài đâu nhỉ?”. Nàng lan man suy nghĩ: “Hay là anh ấy? Anh Bình…!”. Nhưng rồi nàng ngờ ngợ “Nếu đúng là anh ấy sao lâu nay không thèm liên lạc thư từ gì với mẹ con mình? Lẽ nào?!... Tình nghĩa là thế, thân thương là thế cơ mà?!”. Bỗng dưng, trí tưởng đưa nàng về vùng trời kỷ niệm xưa cũ. Đã bao năm tháng qua rồi, nhưng nàng vẫn còn nhớ như in những ngày ấy.
… Thủy-Bình quen nhau từ hồi còn theo học ở các lớp bậc trung học đệ nhị cấp, khi đậu tú tài rồi mà cả hai có vẻ như vẫn… vô tư; nhiều lần cùng nhau rong chơi, khi thì chè bắp Cồn Hến, bánh khoái Đông Ba hoặc sóng đôi giung giăng bát phố mỗi chiều thứ bảy nhưng chưa một lần dám nắm tay nhau. Bên Thủy, Bình dường như sẽ luôn luôn chỉ là một anh chàng vệ sĩ nhút nhát hay cả thẹn của lòng nàng, nếu như... không có một lần, hai người bỗng dưng cao hứng rủ nhau vào rạp xi-nê coi phim Rô-mê-ô – Ju-li-et. Chuyện tình buồn của hai người thuộc hai dòng tộc thù địch đã cuốn hút mọi người mải mê xem. Đến đoạn chàng Rô-Mê-Ô sững sờ, vật vã bên xác người yêu rồi rút gươm tự sát trong nhà mồ thì đâu đó có tiếng thổn thức, rồi lại có tiếng cười khẩy: -Đúng là đàn bà. Chỉ cái mau nước mắt! Nhưng chỉ một đỗi sau, chính người đàn ông ấy lại ôm mặt âm thầm nức nở. Không khí trong rạp như chùng cả lại. Nàng đã vùi mặt vào vai chàng rấm rức làm nhòe đi một phần lưng áo, mắt cả hai đều đẫm lệ. Chàng cảm động bảo nàng: -Em ơi! Bây giờ chúng mình hãy giao kết với nhau, mình sẽ chung thuỷ với nhau trọn đời, đừng bao giờ chia lìa em nhé!? -Và nàng đã thổn thức nguyện ý gật đầu. Chàng đã giao kết với nàng chân tình như thế trong bầu không khí thiêng liêng như thế, lẽ nào bây giờ lại quên hết rồi sao?!
… Sau buổi đó, một bận tới nhà cha mẹ chồng, nàng thấy không khí trong nhà có vẻ sao sao ấy. Ông bà chỉ gật đầu lấy lệ đáp lại lời chào của nàng rồi ngậm tăm. Cô Ba, chú Út thì kiếm cớ lãng đi đâu đó. Loanh quanh, luẩn quẩn một lúc chẳng biết làm gì, Thủy chán nản định về, bất chợt ánh mắt nàng bắt gặp cái cassette mới tinh chễm chệ nằm trên đầu tủ, trầm trồ: -Chà... Nội mới sắm được cái cát-sét đấy à! Thật mừng ba mẹ có cái để nghe cải lương cho đỡ buồn lúc tuổi già nhỉ! -Cả hai ông bà nhìn nhau, rồi quay sang nàng mỉm cười gượng gạo. Nàng sắp chào từ giã thì bố chồng đột nhiên lên tiếng:
-Thủy à!... Mấy bữa rày ba có chuyện muốn nói với con nhưng…
-Dạ, có gì đáng ngại đâu ba, dâu con trong nhà cả mà.
-Ba… Ba vừa nhận được thư của Bình.
-Trời ơi! Đúng y như… -Nàng kêu lên rồi vội vàng lấy tay bụm miệng, hai mắt mở lớn, háo hức chờ đợi…
-Nhưng… Nó thật đáng trách con à. Nó đã có vợ khác ở bên Mỹ rồi. Hơn mười mấy năm còn gì.
Nàng có nghe lầm không nhỉ? Chẳng lẽ sự thể lại xảy ra trần trụi thế sao hở trời! Nàng muốn hét lớn rồi khóc oà lên cho thoả cơn tủi cực nhưng cố nén, gượng trấn tỉnh hỏi: --Ba cho con địa chỉ của anh ấy đi. Con phải viết thư hỏi anh ấy cho ra lẽ. -Ông già trù trừ lo ngại: -Đây chỉ là địa chỉ tạm thời. Nó sắp dọn về Ca-Li rồi, để lần sau ba đưa con địa chỉ chính thức.
Sợ phải khóc trước mặt ông già, nàng lật đật xin phép ra về. Sau lưng nàng có tiếng thở dài thườn thượt(?) đuổi theo. Ồ không. Hình như đó là tiếng thở phào nhẹ nhõm của một con người đã trút đi được gánh nặng đeo đẳng bấy lâu nay(?).
Những lần sau đó khi tới nhà cha mẹ chồng, nàng chỉ biết ngồi cô đơn trong sự ghẻ lạnh. Cô Ba, chú Út thi nhau đánh chó chửi mèo, cố tình làm cho nàng bức xúc, sớm bỏ ra về. Chẳng bao giờ nàng nhận được cái địa chỉ mà bố chồng đã từng ngọt ngon hứa hẹn. Đứa con trai nhỏ của nàng không được thường xuyên về thăm nhà như trước nữa, mỗi lần muốn thăm nó thật khó khăn. Chẳng đặng đừng, nàng phải đem thằng bé về hẳn nhà mình. Lập tức sau đó cả cô Ba, chú Út và ông nội xuất hiện: -Nó là cháu đích tôn của tao. -Ông nội nói: -Để đó tao nuôi. -Một trận xô xát, giành giựt xảy ra, phải nhờ bà con lối xóm nhảy vào can thiệp mẹ con nàng mới yên. Bị trận đòn đau nhưng bù lại, cả nhà được ở bên nhau đề huề sum hiệp. Đó cũng là nút dây ràng buộc cuối cùng tháo gỡ mối liên hệ giữa nàng với nhà chồng.
… Cuộc sống ngày càng khó khăn hơn. Những chuyến tàu Nam-Bắc từ lâu đã không còn ghé lại cái ga xép tỉnh lỵ nhỏ bé này nữa. Thủy xoay xở sang một vài công việc khác để bù trừ vào mớ thu nhập cỏn con vừa bị cắt đứt, thế nhưng chẳng đi tới đâu. Thực ra cũng có một vài “mánh” kiếm được tiền nhưng lương tâm nhà giáo không cho phép nàng làm. Rồi có người bày cho Thúy cách đi về các vùng quê tìm mua các bao bì xi-măng cũ thải ra từ những căn hộ của các hào trưởng, cán bộ vừa xây mới, cái nào nên thì giao cho công ty kiếm huê hồng, cái nào rách thì rọc ra làm bao bì nhỏ đem bán cho những cửa hàng khô ở chợ Lớn. Nhờ tận dụng được “nhân công” trong nhà nên số tiền kiếm được cũng tàm tạm. Cuộc sống gia đình nàng dần dà ổn định, có điều, do thường xuyên hít phải bụi xi măng nên thỉnh thoảng nàng bị ho sặc sụa, sức khoẻ có phần giảm sút. Một lần ho nhiều quá Thúy ôm ngực than thở “Không khéo mình nhiễm phải bệnh lao phổi thì khốn!”. Cái dự cảm mơ hồ bất chợt thoáng qua đó khiến tâm trí nàng âm thầm lo lắng dai dẳng mãi.
… Có tiếng gõ cửa, nàng ngẩng đầu lên, bắt gặp cái nhìn của đứa cháu gái, con cô em chồng. Nó rụt rè đưa ra tờ giấy viết vội: -Thưa mợ, đây là địa chỉ của cậu Bình, cháu lén ghi lại trên chiếc phong bì ngoại bỏ quên ngoài bàn nước hồi sáng. Mợ phải gởi thư cho cậu, mợ ạ! -Đứa cháu sà xuống ôm vai Thúy nức nở: -Mợ thông cảm cho cháu. Cả nhà đều như thế. Con… con…
Mợ cháu ôm chầm lấy nhau tràn đầy nước mắt. Bấy lâu ao ước có địa chỉ để viết thư cho chồng nhưng nay có rồi Thúy lại ngần ngại, lần lữa mãi chẳng viết được câu nào. Đứa con gái lớn nghe phong phanh đâu đó cứ bám lấy mẹ hỏi tin ba. Nàng cố tảng lờ cho qua chuyện bởi không muốn để vết thương đời hằn lên tâm hồn con quá sớm…
… Những âm thanh lao xao từ đâu đó gọi nàng tỉnh dậy. Đưa mắt nhìn quanh, Thúy nhận ra lũ con trẻ đủ đầy đang nhao nhác vây quanh mới cảm thấy hoàn toàn yên tâm. Bên giường bệnh, chẳng biết từ hồi nào còn có một bà khách lạ hoắc khuôn mặt béo tốt đang ngồi chăm bẳm nhìn nàng với nụ cười hồn hậu khiến nàng ngạc nhiên ngó sững. Chừng như hiểu ý, bà ta mau mắn tự giới thiệu:
-À! Cô đã tỉnh lại rồi. May mắn quá. Tôi là chủ chiếc xe du lịch thuê bao làm cho cô mắc nạn. Nói thiệt tình, tuy mấy chú cảnh sát giao thông xác nhận không có lỗi trong tai nạn của cô nhưng tôi vẫn không yên lòng bỏ đi trước khi cô khoẻ lại. Dẫu sao cũng tại tiếng còi và ánh đèn xe bất ngờ…
-Đống bao xi măng? -Ánh mắt nàng thầm thì dò hỏi. Đám con hiểu ý mẹ liền nhao nhao:
-Rồi mẹ ạ. Đem hết cả về nhà rồi.
Bà chủ thuê bao chiếc du lịch vốn là một Việt kiều mới về thăm quê, chả biết sao lại đâm ra thương mến mẹ con nàng lạ. Sau vài lần viếng thăm, biết được tình cảnh khó khăn của gia đình nàng hiện đang gặp phải. Bà nhớ tới đoạn đường khổ ải mình đã đi qua trước đây, càng cảm thấy chạnh lòng trăn trở. Trước khi rời khỏi Việt Nam, bà còn tới thăm Thủy lần nữa, và tặng nàng chiếc máy may để nhận hàng gia công về làm thêm bớt khổ. Bà còn bảo nàng đưa địa chỉ của Bình để khi qua lại bên đó, bà sẽ tìm cách liên lạc, nói hết sự tình cho chồng nàng rõ. Thúy cám ơn nhưng nói thêm: -Em xin chị một điều. Em sẽ không nhận gì cả nếu như anh ấy đã… đã sang thuyền!
Bà gật đầu đồng ý nhưng kín đáo lẫm bẩm:
-Có lẽ em sẽ trách chị thôi. Tuy nhiên, chị sẽ làm những gì đáng phải làm.
Ngày… tháng… năm…
Gởi em và các con.
Rất nhiều năm anh cố liên lạc tìm em. Đến khi có thư của gia đình cho biết em đã có chồng rồi đem con đi đâu mất, anh rất đau khổ và thất vọng. Bây giờ biết được chính xác thì sự thể đã quá muộn màng. Anh đã có vợ khác. Anh có bàn với Huệ, cô ta cũng đồng ý bảo lãnh mấy đứa con của chúng mình qua bên này. Dù sao thì em cũng nên nghĩ đến tương lai của bọn trẻ. Phần em, anh sẽ liệu cách cung ứng đầy đủ để cho em làm lại cuộc đời. Mong em thông cảm. Xin đành lỗi hẹn cùng em! Bình.
Nhận đựơc thư chồng, nàng càng xót xa cay đắng. Chuyện gì đến rồi sẽ phải đến nhưng cái sự thực đang phơi bày trước mắt nàng sao mà quá tỡm lợm. Tình đời, tình người tha hoá đến mức này sao hở trời! Mớ tiền tài bằng đô-la đã giết mất lương tri của con người đến đỗi “người lớn” giành ăn với cả những đứa cháu “cưng” máu mủ ruột rà tuổi đời thơ dại. Tệ hơn, còn làm dang dở cuộc đời của một người vợ hết lòng chung thuỷ trung trinh. Trước đây, dẫu không hy vọng được sum họp với chồng, nàng cũng còn có đàn con để mà yêu thương an ủi vỗ về, nhưng sắp tới đây nàng sẽ mất hết, bởi đàn con trẻ cũng sắp sửa rời xa mình.
Sau bữa nhận được thư chồng, nàng đâm ra thẫn thờ thơ thẩn, nói trước quên sau. Suy nghĩ miên man, nàng thấy Bình nói cũng có lý, bởi nàng không thể giống như con chim đà điểu, cứ rúc đầu trốn mãi vào cát trước thực tại được. Dẫu đau đớn trong lòng, nàng quyết định nói rõ sự việc với đàn con để chúng tự quyết định. Không thế thì sau này biết chuyện, lỡ chúng oán hận, nàng sẽ đau khổ suốt đời.
Nàng vùi đầu khóc thầm trong bóng đêm ướt đẫm cả chiếc áo gối. Chiếc áo gối có thêu hình đôi chim Loan-Phượng mà nàng có ý định sẽ mãi mãi rời xa, bởi chúng nào còn có chút ý nghĩa gì đâu đối với nàng nữa?
Tối hôm ấy, sau khi ăn cơm xong, nàng tập hợp lũ trẻ lại:
-Các con ơi! Mẹ vừa nhận được thư của ba.
Bọn trẻ sững sờ rồi tất cả nhao nhao:
-Ba nói nói gì hả mẹ? Ba có gửi tiền, gửi hàng về không mẹ?
Nàng chậm rãi bảo:
-Ba không gửi tiền, gửi hàng nhưng ba muốn bảo lãnh tất cả các con qua bên đó để chăm lo tương lai cho các con.
-Trời ơi! Sướng quá! -Bọn trẻ reo lên: -Vậy chừng nào mẹ con mình đi hả mẹ?
-Chỉ các con thôi. Còn mẹ thì… thì ở lại.
-Sao vậy mẹ? Mình đi gặp ba mà.
Nàng nghẹn ngào:
-Mẹ không thể đi được, vì ba… ba đã có vợ khác… Có vợ khác rồi các con à!
Không khí bỗng nhiên lặng ngắt, rồi bầy trẻ nhao nhác:
-Nhưng khi tụi con đi rồi, mẹ sẽ ra sao?
“Ừ… Khi bọn chúng đi hết cả rồi, mình sẽ ra sao đây nhỉ! Sẽ ra sao…?!?”. Không nén được nữa, Thúy ôm mặt khóc oà. Đứa lớn nhất, rồi tiếp tới hai đứa em kề đồng loạt nhào tới xoắn xuýt ôm chầm vai mẹ tức tửi: -Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Chỉ độc mình cậu Út bé bỏng nghe lỏm bỏm câu được câu mất, ngạc nhiên nhìn mọi người lẩm bẩm: -Nhận được thư Mỹ sao không cười mà lại khóc? Kỳ chưa?!”
Ngày… Tháng… Năm…
THƯ GỬI BA
Chúng con rất vui mừng vì lại được có ba như những ngày trước. Cám ơn ba đã quan tâm tới đường vật chất, tương lai và sự nghiệp của chúng con, nhưng chúng con quyết định ở lại. Ba ơi! Làm sao chúng con bỏ mẹ lại một mình vào lúc này, một khi mà hầu như cùng lúc người đã bị mất đi tất cả… Mẹ sẽ thế nào khi không có chúng con bên cạnh trong những ngày sắp tới hở ba?!
Xin ba thông cảm và hiểu cho chúng con. Thưa ba. Đời sống hiện tại và cả tương lai có thể sẽ còn lắm điều khó khăn thiếu hụt, nhưng ngọn lửa nhân ái của mẹ sẽ thắp sáng cho chúng con thấy vẻ đẹp của tình người và cuộc sống để hướng về phía trước …
Con của ba
Hiếu Hiền-Hiếu Nghĩa-Chí Tín-Chí Trung
Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011
NGÀY HỘI ĐỒNG MÔN
Tuy không có bạn cũ trong dịp nầy nhưng tôi vẫn cảm thấy vui và cảm động khi nhìn lại những hình ảnh sinh hoạt hôm nay. Tôi cứ tưởng cái "HALL" dùng làm ngày Tất Niên hôm nay là Hội Trường SPQN với những đêm Văn Nghệ năm nào. Ca sĩ SPQN tuy không còn "áo trắng sân trường" nhưng hát còn khỏe lắm không kém gì ca sĩ Pro của các Trung Tâm. Anh Nguyên Đạt, guitarist, hao hao giống Trịnh Công Sơn. Đặc biệt là là ban hợp ca với những tà áo dài truyền thống VN đầy màu sắc tươi trẻ đã làm "sáng" sân khấu. Áo dài VN lợi hại thật, nó đã "enhance" cái nét duyên dáng của người phụ nữ VN bất kỳ lứa tuổi nào. Hãy tưởng tượng quí Chị mặc quần Jean lên sân khấu thì sẽ như thế nào, chắc chắn không thể nào đẹp như những tà áo dài màu hồng hôm nay.
Hôm nay tôi cũng vui là gặp lại Thầy Ba, sự hiện diện của Thầy Ba cũng gợi lại hình ảnh các Thầy khác không có mặt hôm nay: Thầy Hiệu trưởng Trần Văn Mẫn, Thầy Nở, Thầy Hy, Thầy Đoàn Nhật Tấn... Giờ nầy Thầy ở đâu? Sài Gòn, Qui Nhơn, Mỹ, Úc, Pháp hay Miền Đông Hoa Kỳ? Chúng em vẫn nhớ quí Thầy.
Dịp kỷ niệm 50 năm SPQN vào tháng 6/2012 sắp tới sẽ là ngày đầy ý nghĩa của tất cả chúng ta, và tôi cũng hy vọng đây sẽ là cơ hội để chúng ta gặp lại được nhiều Thầy Cô và bạn bè cũ, đặc biệt là Thầy Hiêụ trưởng Trần Văn Mẫn. Nhân đây cũng xin kể câu chuyện "Tìm lại Thầy cũ". Năm 1966, sau khi đỗ vào Đệ Thất trường Trung học Trần Quốc Tuấn QN, tôi học Anh Văn với một thầy giáo người Mỹ tên là David Juracek. Thầy David là một sinh viên Thiện Chí dạy Anh Văn cho trường TQT. Trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, tôi nghĩ rằng Thầy David sẽ chỉ là hình ảnh của kỷ niệm, và sẽ không bao giờ có thể tìm lại được người Thầy Mỹ trên cõi đời nầy nữa. Nhưng may mắn Trời quả không phụ lòng người. Tôi đã search trên Internet 3 năm trời. Một ngày đẹp trời, chính người Chú ruột, cũng là giáo sư Anh Văn dạy cùng trường với Thầy David đã mách nước bằng cách cho những số phone làm "reference number" để hỏi thăm tin tức. Và cuối cùng tôi đã tìm ra "tung tích" của Thầy tận Minesota. Trời ơi! Giấc mơ của tôi đã thành sự thật. Nhân ngày Họp Mặt LIÊN TRƯỜNG, tôi đã mua một package gồm vé bay và khách sạn và mời Thầy về San Jose tham dự ngày Họp Mặt LT. Sự hiện diện "bằng xương bằng thịt" của Thầy David trong đêm Hội Ngộ đã làm Thầy Cô và học trò cũ sững sốt ngạc nhiên, lòng thấy rưng rưng...
Sau đó biết bao Thầy Cô và học trò cũ đã liên lạc thăm hỏi Thầy như người thân yêu sau bao năm xa cách. Còn Thầy Mẫn thì sao? Sau chừng ấy năm, Thầy còn nhớ chúng Em không?!?
Cảm ơn BTC cũng như quí Anh Chị đã cho tôi cơ hội may mắn được trở lại những ngày tháng cũ của SPQN với bao nhiêu kỷ niệm chưa quên... Chúc tất cả quí Anh Chị một cuối tuần bình yên vui vẻ bên gia đình và người thân yêu
Tháng 12/ 2011
Châu Phạm
Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2011
XUÂN MÙA LƯU XỨ
Mẹ ơi xuân lại đến rồiMà con thì vẫn phương trời ngái xa
Đáu đau ánh mắt quê nhà
Đường chiều rủ lá-cánh hoa lịm buồn
Chơi vơi nỗi nhớ niềm thương
Gọi miền ký ức để vương vấn lòng
Quê người chừ đã tàn đông
Bốn bề tuyết phủ núi rừng thê lương
Cảnh đời lưu xứ tha phương
Tết về càng thấy cô đơn muộn phiền
Đêm hằng mơ chuyện đoàn viên
Gom vào giấc ngủ cô miên hao gầy
Dẫu trong cuộc sống đủ đầy
Làm sao quên được tháng ngày hàn vi
Xác thân dầu đã ra đi
Tâm hồn vẫn mãi khắc ghi ơn đời
Mẹ ơi xuân lại đến rồi
Mà con thì vẫn phương trời ngái xa
Đáu đau ánh mắt quê nhà
Chiều nghiêng rủ lá-cánh hoa niệm buồn
Nguyên Đạt
Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011
THÁNG NGÀY QUA
Ai đó đã nói: “Bao nhiêu nắng để làm khô một dòng sông, bao nhiêu mưa để cuốn trôi một sa mạc và bao nhiêu đêm để giết chết một nỗi nhớ”… Càng về già hắn càng ưa nhớ về những ngày tháng cũ để rồi ngậm ngùi tiếc nuối, có lúc ân hận xót xa vì đã không sống trọn vẹn hết mình vào lúc đó. Trong cuộc đời hắn đã sống như một chiếc bách giữa dòng lênh đênh không biết trôi giạt về đâu, tất cả để định mệnh đưa đẩy.Năm đó, khoảng 1963-1964 hắn đang học dở dang năm dự bị của đại học Văn khoa Huế thì thấy chán nản vì không theo kịp. Ai đời đổ tú tài toán mà không vào Khoa học lại đi Văn khoa. Thời đó có được mảnh bằng tú tài 2 là oai lắm. Đối với hắn, vì thiếu sự dẫn dắt của gia đình, hắn cảm thấy bơ vơ trước ngả ba đời. Muốn tiến thân trên con đường hoạn lộ thì phải học lấy cử nhân của một trong ba ngành: Khoa học, Văn khoa hoặc Luật. Cầm mảnh bằng trong tay hắn không biết đường nào để đi. Thi vào các trường Quốc gia Hành chánh hoặc Phú Thọ thì quá khó và hắn đã rớt lia chia rồi, không dám thi lại nữa. Vào quân đội thì hắn thấy xa lạ và uổng phí cho cái bằng tú tài 2 của mình vì nếu muốn đi lính thì với bằng “diplome” đổ từ 1959 hắn đã có thể nhảy vào Sĩ quan Thủ Đức từ lâu rồi. Vào Sĩ quan Đà Lạt thì sợ không đủ thước tất vì hắn cao không quá 1 mét 55. Khi ghi danh học Văn khoa hắn còn nhớ rành rọt trong buổi họp mặt lớp dự bị đầu niên khóa 1963-1964. Giáo sư khoa trưởng hướng dẫn sinh viên các đại cương về ban ngành của khoa đồng thời nói rỏ về chương trình của lớp dự bị, sau đó là buổi hỏi đáp dành cho SV, hắn dơ tay hỏi khoa trưởng: “Thưa thầy trong quá trình VK có ai học ban B mà lại ghi danh học VK và đổ dự bị năm đầu được không”? Ông trả lời một câu xanh dờn: “Tôi chưa bao giờ thấy”!! Thật là một cú đấm vào mặt làm hắn xâm xoàng và tê liệt hết một nửa ý chí. Thế mà chưa thấm tháp gì, khi vào lớp dự bị học giờ “culturel Francaise” của một giáo sư Pháp tên là Beaulie hay gì đó mà lâu quá hắn không nhớ nỗi. Ông ta bước vào lớp xong, là ngồi xuống ôm micro nói như sanh như sứa hắn ghi không kịp bởi không hiểu gì cả. Đến giờ Grammaire, lại cũng một giáo sư người Pháp nữa, trẻ ,đẹp trai trông không khác gì tài tử Alain Delon, ông giảng uOI ou Non, kéo dài cả 3 tháng trời, hắn không hiểu nội dung bài học của ông là gì. Rồi đến giờ Văn chương VN do một giáo sư VN tên Lê Tuyên giảng dạy, ông có dáng dấp của một nghệ sĩ thứ thiệt, lại cũng như hai ông trên, vào lớp là ôm micro và nói thao thao bất tuyệt. Ngang đây hắn thấy mình thật sự thấm thuốc và đã… lạc đường vào lịch sử.
Nửa năm sau đó hắn bỏ học, thi vào trường Sư Phạm Qui Nhơn, trúng tuyển, hắn lên đường đi làm sự nghiệp. Giã từ trường đại học VK với nỗi niềm ngậm ngùi cho thân phận mình. Thời đó không biết làm sao mà triết lý của Jean Paul Satre ăn sâu vào đám sinh viên như hắn thật đậm, nhìn đâu cững thấy phi lý, nôn mữa. Có lẽ cũng đúng trong bối cảnh lịch sử lúc đó: Chế độ ông Diệm đổ, Mỹ đổ quân, chiến sự trở nên ác liệt, bạn bè có đứa chết trận có đứa thương tật. Mọi giá trị xã hội bị đảo lộn khi lính Mỹ hiện diện. Trong cơn lốc xoáy đó hắn quay về triết lý hiện sinh của Satre, của Albert Camus. Khi vào Sư Phạm Qui Nhơn hắn phát giác thêm một điều là hắn đã lầm đường trong viêc chọn sự nghiệp. Hắn nghĩ với sức học của hắn, tầm vóc kiến thức của hắn, hắn phải là một giáo sư trung học. Ai đời ở đây chỉ dạy để làm giáo viên tiểu học. Đầu óc nổi loạn của hắn sẵn dịp vùng dậy, hắn không còn thích thú gì các giờ dạy của trường Sư Phạm nữa, hắn tìm mọi cách để vắng lớp. May quá hồi đó Tôn Thất Lập học cùng lớp là trưởng ban văn nghệ khóa 3 Sư Phạm Qui Nhơn, hắn ghi danh vào ban Văn nghệ của bạn. Cứ mỗi lần điểm danh là lớp trưởng bảo đi tập văn nghệ, mà văn nghệ cái khỉ khô gì, hắn chỉ hát bè cho một bài hợp ca nào đó của Phạm đình Chương. Cho đến bây giờ hắn còn nhớ mấy câu “Ô… ô… ô… ồ… ô… ồ… ộ… ộ”… thế là lọt sổ được vài tháng khỏi học.
Trong những giờ học ở SP hắn thích nhất là môn Pháp văn. Hắn nhớ đăng ký lên lớp thuyết trình cuốn “Bonjour Tritesse” của Francois Sagan. Hắn không nhớ đã soạn những gì và nói những gì nhưng thời đó, đọc cuốn này hắn cũng hiểu được ba phần tư vì Sagan cũng là một môn đệ của trường phái Existencialism và hắn thì rất khoái thuyết hiện sinh chủ nghĩa nầy. Thật là điếc không sợ súng và múa rìu qua mắt thợ. Có lẽ khi thuyết trình hắn nắm chặt cái chân lý là tụi bạn cùng lớp là những củ khoai với lại tụi đó đã học Văn khoa như hắn đâu! Khổ nỗi là kỳ thi lục cá nguyệt năm đó điểm Pháp văn của hắn không được đứng nhất như hắn tưởng mà là thứ mấy mươi. Thật bỉ mặt với bạn bè!
Cái ngông vẫn còn đeo riết theo hắn. Tết năm đó khoảng 1965, bạn bè cùng lớp lục tục giã từ Qui Nhơn về quê ăn tết thì hắn cùng một thằng bạn tên Hồ Đăng Kế rủ nhau lên Đà Lạt ăn tết. Tội nghiệp, với số tiền gia đình ở Huế gởi vào cho để hắn mua vé xe tàu về quê cộng với tiền học bổng và vay mượn bạn bè thêm một ít hắn mới tạm thấy ấm túi để làm một chuyến phiêu bồng lãng du. Hai đứa ghé Nha Trang trước, hắn không nhớ đã đi bằng phương tiện nào, chỉ nhớ ở lại nhà thằng bạn cùng lớp vài ngày sau đó mua vé xe đò đi Đà Lạt.
Đà Lạt là niềm mơ ước không cùng của hắn. Hắn nhớ những cảnh lãng đãng sương mờ của Đà Lạt qua tác phẩm “Vòng tay học trò” của Nguyễn thị Hoàng. Mối tình thơ mộng của gã học trò với cô giáo. Thời đó hắn cũng mang một mối tình thắm thiết, mối tình đó mà đắm mình trong khung cảnh Đà Lạt thì thật là thơ mộng cùng mình. Đặt chân lên Đà Lạt lần đầu hắn tưởng mình như đang ở một khung trời nào khác: mưa lay bay, trời mờ sương, hoa anh đào nở đỏ rực cả một khung trời, nhìn đâu đâu cũng thấy hoa, hoa trong sân vườn nhà ai, hoa dọc hai bên đường lên dốc và nhất là hoa trong chợ Tết, ngàn hoa khoe sắc trong không khí lành lạnh của trời xuân đẹp không thể tả nổi. Còn con gái Đà lạt thì cô nào má cũng ửng hồng và ăn mặc như Tây. Hắn nhớ những khung cảnh của vùng quê ở Pháp mà hắn từng xem đâu đó trong phim… Hắn thầm hát bài “Ai lên xứ hoa Đào” và “Những bước chân âm thầm” để thẩm thấu nét lãng mạng của khung cảnh. Ngày hí hững tươi vui trên vùng đất mới mở ra trước mắt hắn đầy hứa hẹn hoan ca. Hắn nhớ cùng bạn vất xách ở chung cư dành cho sinh viên scien-po đi dạo phố ngắm cảnh Đà Lạt. Niềm vui chưa trọn vẹn thì tối đó một sự cố xảy ra, sau khi tắm rửa rủ sạch bụi đường xa, rờ vào túi hắn ngả ngữa là cả đống tiền đem theo bay mất, chỉ còn vài chục đồng mà kẻ vô hậu cố tình để lại. Hắn biết chắc mẩm là tụi sinh viên còn ở lại của cư xá cuỗm của hắn chứ không ai khác. Phòng trọ mấy chục mạng nay chỉ còn vài mống, nhìn quanh chẳng còn thấy mống nào, mình là kẻ ở nhờ biết ai đây mà soát xét. Sau khi hỏi thằng bạn đi cùng xem có còn tiền để ở lại Đà Lạt không thì được biết nó không có gì cả, tất cả chỉ trông cậy vào hắn. Thế là hai đứa bàn với nhau là phải giã từ Đà lạt sớm vì không có ai ở đây để nhờ vã vay mượn. Dốc hết túi tiền còn lại của hai đứa chỉ đủ mua được hai vé xe đò về Nha Trang. Phải về Nha Trang cái đã vì ở đó có bạn bè cùng lớp, dầu gì cũng ăn được bữa cơm miển phí. Trên đường đi, quá đói vì trời lạnh vì chẳng ăn gì từ lúc xe khởi hành, hai đứa lén ra sau vườn hái trộm một trái đu đủ còn xanh gọt vỏ ăn lót dạ. Về Nha Trang thì trời đã tối, hai đứa tan hàng, mỗi đứa lo kiếm một cách để tồn tại mà về lại Qui Nhơn. Hắn không nhớ khi đó mồng mấy Tết, chỉ nhớ mang máng ghé nhà thằng này thằng nọ để tá túc hoặc mượn tiền nhưng hình như không được bao nhiêu. Hắn chợt nảy một ý kiến: hay ghé lại nhà một người bà con, cùng quê, cùng dòng họ. Hắn đứng lớ ngớ trước một villa to tướng bấm chuông, vào nhà hắn thấy nhục nhã quá nên không mở miệng mượn tiền mà chỉ bảo là ghé thăm hai bác cùng anh chị xong kiếu từ ra về. Hắn không nhớ thằng bạn cù rủ hắn đi phiêu lưu giờ đó ở đâu. Sau này nghe nó nói lại là mượn được tiền và mua vé máy bay về lại Qui Nhơn sau khi đọng lại Nha Trang 3,4 ngày. Còn hắn tứ cố vô thân, cuối cùng nhờ bạn bè chỉ dẫn, nghe đâu có tàu của hải quân VN chở Giáo sinh ở NT về QN vì đường bộ bị đắp mô gài mìn không đi được. Hắn theo bạn lên tàu, khổ một nỗi là không đi cùng tụi nó để có cái ăn hoặc lân la với thủy thủ để xin ngủ dưới hầm tàu, hắn chui một góc trên boong nằm nhìn trời đất mênh mông. Khi tàu ra khơi phần vì lạnh phần đói hắn như một con mèo ướt nằm bẹp dí một góc trên boong không ai ngó ngàng tới, hắn ói, mữa ra mật xanh mật vàng lăn lộn theo từng con sóng không biết mấy ngày mới tới QN, rồi hắn cũng không biết làm sao mà lên được bờ để về phòng trọ chỉ biết sau đó hắn ốm một trận thập tử nhất sinh cả tháng trời mới đi học lại được. Viết đến đây hắn mới thấy trách thằng bạn cùng lớp sao nỡ vô tình hỡi ai đã xúi dại hắn làm một chuyến phiêu lưu đau khổ như vậy, Xuân đâu không thấy chỉ thấy một cái Tết đói rách tả tơi, thân tàn ma dại. Một điều lạ là gặp nhau sau này gã vẫn tỉnh bơ không một chút gì thương xót cho thằng bạn khốn khổ năm nào. Đầu năm đó sau cái Tết cay đắng hắn mới viết thư về nhà nói láo là bịnh quá không về quê ăn Tết cùng gia đình được. Bố mẹ hắn vội vã gởi thêm tiền vào cho để chữa bệnh. Thật tội lỗi hết chỗ nói. Cái phiêu bồng của hắn phát sinh từ óc nổi loạn cùng phản kháng của tuổi trẻ. Hắn nuốn chứng minh cho gia đình thấy hắn đã trưởng thành, không còn theo khuôn phép gia đình nữa. Cũng có thể do sách vở làm hắn mộng mơ phiêu lãng để rồi chẳng đi đến đâu.
Hai năm ở Sư Phạm Qui Nhơn là hai năm chơi nhiều hơn học. Hắn nhớ cùng bạn bè tổ chức những buổi đi chơi xa hoặc đi picnic, khi thì Ghềnh Ráng, khi thì thăm mộ Hàn Mặc Tử hoặc thăm trại cùi Phương Quý hoặc Suối Đá. Nhưng kỷ niệm đáng nhớ nhất vẫn là những lần bãi lớp đạp xe trối chết về tiệm cơm tháng để giành chỗ ngồi trước. Lý do là ăn trước thì thức ăn nóng và ngon hơn, thứ nữa là về trễ phải ngồi đợi lâu quá đói bụng… Rồi những bữa nhậu trời long đất lở. Hắn nhớ có một lần nhậu say thằng bạn tên Chín chui dưới gầm giường để núp. Hắn hỏi nó tại sao, nó bảo nó là chuột, hắn la lên mầy không phải là chuột và kéo ra khỏi gầm giường, hai đứa giành giật nhau cả buổi, tội nghiệp sáng ra tay chân nó bầm dập đủ nơi…
Giấc mơ Đà Lạt vẫn còn ám ảnh chưa rời thì một bất hạnh xảy ra với hắn: Số là hắn đinh ninh đổi đi dạy ở Đà Lạt thì thằng bạn thân mà hắn ủy nhiệm lại chọn Quảng Trị. Giấc mơ Đà Lạt không thành đã giết chết nửa cuộc đời mơ mộng mà hắn luôn lãng đãng mang theo. Hắn trình diện ty Quảng Trị với một nỗi lòng héo hắt. Lúc đó chiến sự đã có mòi khốc liệt, đường xe đò Huế - Quảng Trị bị đặt mìn liên tục. Có lúc ngồi trên xe đò mà hồn phách thất lạc tận đâu đâu vì hai bên đường một vài chiếc xe cháy đen bẹp dúm cùng một vài xác chết của hành khách nằm vương vãi hai bên trông rợn người.
Ra đến Ty nhận sứ vụ lệnh hiệu trưởng thì ngay ngày hôm sau một thằng bạn khóa trước chực sẵn để bàn giao công vụ cùng khuôn dấu hiệu trưởng. Ngày đến trường hắn càng nản hơn, từ Cam Lộ đạp xe dọc theo quốc lộ 9 gần 10 cây số xong rẽ vào một làng quê thêm cây số nữa mới đến trường. Trường là một dãy nhà tôn năm phòng, giáo viên toàn là nam và là dân địa phương. Nhìn học trò hắn càng ngán ngẩm hơn, không khác gì hình ảnh mà Cao Bá Quát đã tả: Nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi. Áo quần xốc xếch tả tơi, mặt mày lem luốc hốc hác, tóc tai bù xù trông giống đám trẻ bụi đời. Có lần hắn hỏi một học sinh sao không thuộc bài, hắn nghe một câu trả lời lạ hoắc: “Dạ thưa thầy hôm qua em đi mót lúa với mạ em”! Trời đất, mấy giây sau hắn mới hiểu mót lúa là gì (lượm lúa rơi còn sót lại sau khi gặt). Chừ nghĩ lại hắn thấy mình quá đỗi vô tâm. Tại sao không đem lòng thương để san sẻ mà lại nản chí. Sau vài ngày hắn giao khuôn dấu cho giáo viên già nhất trường về lại Huế rong chơi. Có nhiều lần hắn muốn bỏ nghề nhưng lại không biết làm gì vào lúc đó. Gia cảnh nhà hắn lúc đó lại khó khăn, rất cần đồng lương hàng tháng của hắn để tài trợ cho đứa em đang học ngành Y tại Sài Gòn. Cơ cực nhất là những ngày mưa phùn gió bấc đạp xe từ Cam Lộ đến trường đã xa, cái cảnh mà hắn nhớ đời là bùn quánh vào bánh xe không đạp được phải dùng một cái que để xoi xỉa cho nó rớt xuống, đi một đoạn lại phải dừng lại xoi xỉa, có ngày 10 giờ sáng hắn mới tới trường. Rồi những ngày mùa hè cũng khốc kiệt không kém. Gió Lào thổi liên miên bất tận suốt ngày đêm, rờ đâu cũng nóng, từ chiếc giường nằm cho đến ghế ngồi, cát bụi mù mịt khắp nơi, cát bay cả vào thức ăn. Có ngày chỉ uống nước cho đến sình ruột cóc mới thôi. Đối với hắn, nơi đây không khác chi cảnh lưu đày. Càng chối bỏ hiện tại hắn càng mơ khung trời Đà Lạt đã đi năm nào, hắn sống trong một tình trạng vong thân y như triết của Satre và Camus đã phổ vào đầu óc hắn. Hắn thấy đời toàn phi lý và nôn mữa. Mấy tháng hè cuối năm đó hắn nhận được giấy trình diện của bộ Quốc phòng nhập ngũ khóa 26 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Thôi giã từ lưu đày và quê nhà, hắn thề với lòng mình là không bao giờ quay trở lại vùng đất quê nghèo cày lên sỏi đá này nữa. Sau 9 tháng ở quân trường Thủ Đức, giấc mơ Đà Lạt vẫn còn ám ảnh nhưng than ôi định mệnh lại một lần nữa trêu chọc hắn: Tiểu khu Tuyên Đức Đà Lạt đã hết chỗ. Hắn muốn xin đi tiểu khu này nhưng các bạn đồng khóa d0063 trước đã chọn hết rồi. Gần đến phiên mình hắn hỏi một tân binh sĩ quan ngồi cạnh có tiểu khu nào có khung cảnh giống Đà Lạt không, tên đó cho biết là tiểu khu Kontum có khí hậu y chang Đà Lạt. Vì một niềm ước mơ năm nào không thành đã đưa đẩy hắn vào một ngả rẽ mới. Ngả rẽ lớn nhất đó đã định đoạt nửa cuộc đời còn lại của hắn: gặp vợ ở Cao nguyên mặc dầu khi đó đã có người yêu ở Huế và Sài Gòn…
Hắn nhớ lại lời nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma:
Hãy suy tư cẩn thận vì tư tưởng sẽ biến thành lời nói.
Hãy ăn nói cẩn thận vì lời nói sẽ biến thành hành động.
Hãy cư xử cẩn thận vì hành động sẽ biến thành thói quen.
Hãy chú trọng thói quen vì chúng sẽ biến thành nhân cách.
Hãy chú trọng nhân cách vì chúng sẽ biến thành số mệnh,
Và số mệnh của anh sẽ là cuộc đời của anh.
Điểm lại đời mình hắn thấy đúng là hắn đã đùa với số phận. Chính hắn lãng đãng quá nên cuộc đời của hắn cũng lãng đãng theo, hay nói theo Nguyễn Du là tự mình tìm lấy đoạn trường mà đi, nhưng dầu gì thì những ngày tháng đó cũng đeo cứng vào ký ức làm hắn không thể nào quên nhất là những đêm mưa gió sụt sùi của mùa đông xứ lạnh này. Thật đúng như tâm sự nhà thơ Thiều Anh:
Hẹn đến mùa sau sẽ về thăm
Thăm từng cái lạnh dấu trong chăn
Nghe mưa rả rich trong đêm vắng
Để nhớ vô cùng những tháng năm
Nguyên Tịnh
Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011
TÌM
Tôi đi tìm lửa trong đêmTìm ngọc trong đá tìm sen trong bùn
Tìm cao giữa đám thấp lùn
Tìm người giữa lũ giun trùn ngu ngơ
Tôi đi tìm thực trong mơ
Tìm thanh trong tục tìm thơ trong đời
Tìm người giữa lũ đười ươi
Tìm tri âm giữa tiếng cười lời chê
Tôi đi tìm tỉnh trong mê
Tìm yên lặng giữa bốn bề phong ba
Tôi đi tìm Phật trong Ma
Tìm Thánh trong Quỷ tìm Ta trong Mình
Phương Xích Lô
